THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN CHÂU THẠCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN CHÂU THẠCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

ĐỌC “NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ”


                           

                                      Chân Dung Tác giả Châu Thạch
                                   ĐỌC “NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ”
                                     ĐƯỜNG THI LÊ NGỌC PHÁI
                                                                Châu Thạch

Hiện nay phong trào làm thơ Đường phát triển rất ngoạn mục trên diễn đàn văn chương nước ta. Ngoài những trang web và ấn phẩm của Hội thơ Đường luật Việt Nam chuyên về Đường thi,  hầu như trên tất cả các trang web văn chương khác đều có “Góc Thơ Đường” dành riêng cho bạn đọc và bạn viết yêu thích thể thơ nầy.
Quan niệm chơi Đường thi hiện nay cũng có hai ý kiến khác nhau. Một số người cho rằng không nên chơi Đường thi vì Đường thi là thể thơ cổ điển, luật lệ nghiêm ngặt có nguồn gốc từ Trung Quốc. Hơn nữa,  Trung Quốc và ta vì đương “cơm không lành, canh không ngọt” nên tẩy chay nó đi là vừa. Tuy nhiên, đại đa số các nước trên thế giới đều thấy được rằng thể loại thơ Đường hiện đang tồn tại ở Việt Nam chính là thơ Đường của Việt Nam. Thơ Đường tuy phát xuất từ Trung Quốc nhưng du nhập vào nước ta đã hơn cả ngàn năm, được ông bà ta chắt lọc, cách tân và biến hóa thành văn hoá nước nhà. Ngay tại Trung Quốc, thơ Đường cũng đã biến mất từ lâu. Vậy chơi Đường thi là bảo tồn và phát huy cái hay của người xưa để lại. Trong nhiều năm gần đây, Liên Hiệp Các Hội UNESCO Việt Nam đã quan tâm đến thể thơ Đường luật của Việt Nam và đã tạo điều kiện để duy trì và phát triển thể thơ này thông qua Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Văn chương Việt Nam và một số đơn vị hoặc tổ chức thơ văn khác.  Trong phong trào phát triển mạnh mẽ của thơ Đường hiện nay, tác giả Lê Ngọc Phái, cựu Giảng viên Đại học Huế, hiện là thành viên của Hội Nhà Văn Thành phố Hồ Chí Minh và Chánh Văn Phòng của Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Văn chương Việt Nam đã phát hành tập thơ “Những Dấu Ấn Lịch Sử” vào đầu năm 2015.
 Tập thơ ‘Những Dấu Ấn Lịch Sử” gồm có 88 bài thơ Đường luật viết về lịch sử Việt nam từ thời Hùng Vương cho đến khởi nghĩa chống Pháp ở Yên Bái năm 1930. Mỗi bài thơ còn kèm theo hình ảnh và chú thích để minh hoạ thêm nội dung. Tập thơ dùng Đường thi để kể lại những vinh quang của dân tộc Việt hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước trước hoạ xâm lăng phương Bắc.
 Ở trang đầu Thượng Toạ Thích Thiện Thông (Trụ trì chùa Sắc Tứ Minh Thiện Khánh Hòa) đã tán dương tập thơ bằng một bài Đường thi có hai câu kết như sau:

              Tác phẩm vinh danh bao chiến tích
               Giả, chơn minh định đẹp vô bờ.

Nhà thơ Nguyễn Văn Quang (Cựu GSTHNH) trong bài Đường thi cũng cảm tác, khái quát được nội dung của sách như sau:

            Bao trang sách, tạc bao thần tượng
            Mỗi áng thơ, ghi mỗi tấm lòng
            Sự tích anh hùng lưu hậu thế
            Vinh danh hào khí giống Tiên Rồng.

Và Châu Thạch tôi cũng cảm tác một bài tứ tuyệt như sau:

               Một áng văn chương lắm sắc bông
                Đường thi ghi dấu bậc anh hùng
                Nghìn thu rạng rỡ hồn dân Việt
                Xây dựng giang sơn giống Lạc Hồng.

Trên đây chỉ xin trích một vài khen tặng ngắn gọn có tóm tắt nội dung của tác phẩm, còn lại nhiều bài của các nhà thơ, các nhà phê bình thơ, các nhà trí thức, các Hòa Thượng, Thượng Toạ viết tỉ mỉ hơn về giá trị của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thì còn nhiều.
 Về giá trị văn chương của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thì nhà thơ nhà giáo Võ làng Trâm cảm tác bốn câu đầu của một bài Đường thi như sau:

                  Tập thơ- lược kể các danh nhân
                   Truyền bá sử ta đẹp mọi phần
                  Thông suốt luật niêm không trái ý
                   Chỉnh chu phép đối giữ thông vần

Nhà thơ Kim Hoa có bài tứ tuyệt như sau:

               Tiếng thơ khơi động tiếng gươm khua
                Vệ quốc, an dân nghiệp kế thừa
                Lịch sử ngàn năm bừng sống dậy
                Thầm nghe chí lớn của người xưa.

 Với chỉ hai nhận xét nêu trên cũng đủ xác nhận được
tập thơ với những bài Đường thi sít sao, chuẩn xác luật Đường thi một cách “Thông suốt luật niêm không trái ý/ Chỉnh chu phép đối giữ thông vần” và tiếng thơ
 “ khơi động tiếng gươm khua” làm cho người đọc cảm nhận được “Lịch sử ngàn năm bừng sống dậy/ Thầm nghe chí lớn của người xưa”. Vậy thì về giá trị văn chương của “Những Dấu Ấn Lịch Sử” thiết nghĩ không cần bàn tới nữa. 
Từ xưa ông cha ta đã dùng Đường thi để công bố chủ quyền đất nước, hịch quân sĩ , vinh danh tổ quốc thân yêu và cho đến nay những bài thơ như thế không bao giờ thiếu. Tuy thế, một tập Đường thi dành riêng để tôn vinh “Những Dấu Ân Lịch Sử” của dân tộc như tập thơ của tác giả Lê Ngọc Phái thì rất hiếm, hoặc nếu không lầm thì hình như không có. Thật như thế thì nhà thơ Lê Ngọc Phái là người có sáng kiến tiên phong, đáng trân trọng và hy vọng như nhà văn Nguyễn Khắc Phước đã viết:  “Một ngày nào đó, tôi tin rằng những bài thơ trong tập NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ sẽ xuất hiện trong sách giáo khoa”.

Đến đây Châu Thạch tôi nghĩ không nên viết gì thêm, để dành phần còn lại cho người tìm và đọc, khám phá những dấu ấn lịch sử hào hùng của dân tộc qua cây bút tài hoa Lê Ngọc Phái ./.
                                                    Châu Thạch
Nguồn từ email của Tác giả:truongvantran@hotmail.com


Thứ Tư, 15 tháng 10, 2014

ĐỌC “TIỆC RƯỢU GIỮA ĐỒNG” THƠ LÊ ĐĂNG MÀNH Châu Thạch




                                  ĐỌC “TIỆC RƯỢU GIỮA ĐỒNG”
                                                          THƠ LĐM
                                                                           Tác Gỉa:  Châu Thạch
Nhiều người hiểu chữ “Lãng Mạn” có nghĩa đen là “sóng tràn bờ”, là một trạng thái cảm xúc bay bổng,
Phản ảnh một ước mơ của khát vọng vươn lên trên thực tại. Nếu đúng nghĩa là như vậy thì bài thơ “ Tiệc rượu giữa đồng’ cúa lê Đăng Mành là một bài thơ rất lãng mạn và lãng mạn ngay từ cái đầu đề. Thật vậy, có mấy ai mở tiệc rượu giữa đồng. Tiệc rượu đó nếu không là ngông, là kỳ quặc thì phải có ý nghĩa gì vượt xa sự thường tình ở đời. Đọc toàn bộ bài thơ ta thấy nó không ngông, không kỳ quặc mà phát hiện ở đó bày tỏ một nhân cách sống thanh bần và cao thượng:
                
 TIỆC RƯỢU GIỮA ĐỒNG!

Chiều sắp xuống tung lưới quẳng về tây
Vội vã khói mây tiễn cuộc hao gầy
Hư không có biết mai còn gặp lại
Thôi tới đây cạn chén giữa ruộng này

Kênh- mương- bờ - thửa, mâm bàn tiếp bạn…
Lấp lánh hôn hoàng nghiêng vạt cò chao
Bát ngát mênh mông như tranh thủy mặc
Rượu chay chén chuyển khiếp tận vườn đào*


Hắt một chén nhâm nhi cùng gió lộng
Không cao lương nên chẳng móc chuyện người
Chén tiếp chén …tay chuyền tay dân dã
Kiếp nông bần uống rượu… cũng kiệm lời

Chẳng khoa trương chuyện thương nòi yêu nước
Mà sử sách ghi mỏi trang bốn ngàn
Chân lấm tay bùn trí soi văn sách
Khoa bảng vọng đồng văn thánh còn ngân

Hắt chén nữa ruộng mương là chăn chiếu
Có ói đây cũng phân bón đất cày
Cho mầm tươi nứt- trổ bông hào kiệt
Dẫu tắt hơi ! thân hóa cỏ đê này

Lý lịch trơn nhờ bùn đất tắm gội
Hãy giữ gìn tinh khiết khi lỡ say
Như sen kia chẳng làm dơ nguồn cội
Vẫn ngát hương thơm hiến cuộc đời này…!

                                                       LĐM
*Nơi anh em Lưu Bị kết nghĩa

Vế đầu của bài thơ giới thiệu một tiệc rượu mở ra trên đồng ruộng trong khung cảnh buổi chiều bóng ngã vể tây. Lý do để mở tiệc là vì tác giả sợ đời là hư không nên biết đâu không còn cơ hội gặp nhau . Đọc vế thơ nầy ta biết ngay tác giả dùng bữa tiệc trên đồng ruộng hoặc hư cấu một bữa tiệc như thế để bày tỏ phong cách sống của mình trong những tháng năm vào tuổi Hạc:
   
            Chiều sắp xuống tung lưới quẳng về tây
            Vội vã khói mây tiễn cuộc hao gầy
            Hư không có biết mai còn gặp lại
            Thôi tới đây cạn chén giữa ruộng này
                   
“ Chiều gần xuống kéo lưới quăng về tây” là hình ảnh sống động chỉ sự sắp ra đi ở cuối đời người. Buổi chiều của thời gian chỉ kéo ánh sáng quăng về tây nhưng buổi chiều của đời người thì kéo tất cả vào cái lưới trời lồng lộng quăng vào trong bóng tối. Vậy chữ “tây” ở đây là bên kia thế giới của sự sống hiện tại.
“ Thôi tới đây cạn chén giữa ruộng nầy”: Vì “chiều” thể hiện cho cuộc đời còn lại, “tây’ thể hiện cho thế giới chết bên kia nên “ruộng” ở đây thể hiện cho đất sống hiện tại và “rượu” là niềm vui cần hưởng thụ.
Bốn câu thơ mở đầu đã thể hiện ngay một cách sống vô vi, ung dung và tự tại: Chiều ngã về tây nên ta uống rượu có nghĩa là sắp lìa bỏ đời nầy ta mau hưởng thú vui trên đất.  Thú vui trên đất mà lê Đăng Mành chủ xướng chỉ là một tiệc rượu đơn sơ đạm bạc nhưng đó là linh hồn của sự thắm thiết và tinh hoa của đất trời nơi nhà thơ đang sống:

             Kênh- mương- bờ - thửa, mâm bàn tiếp bạn…
             Lấp lánh hôn hoàng nghiêng vạt cò chao
             Bát ngát mênh mông như tranh thủy mặc
             Rượu chay chén chuyển khiếp tận vườn đào*

Mâm b àn tiếp bạn ở đây là đồng ruộng thân yêu. Rượu ở đây là phong cảnh hữu tình và say ở đây là say hơn cả nghĩa vườn đào mà anh em Lưu Bị ngày xưa kết ước. Một cuộc rượu như thế là cuộc rượu không phải của người phàm phu, vì rượu ở đây là hương vị thơm tho, đẹp đẽ của đất trời trải ra trước mắt mênh mông, cao rộng với biết bao màu sắc bày ra trước mắt những con người có tâm hồn thanh tao đầy thẩm mỹ.
 Bàn rượu và rượu là thứ đời nầy chưa hề có ai đem ra mở tiệc nhưng cách uống của nhà thơ cũng khác lạ:

            Hắt một chén nhâm nhi cùng gió lộng
            Không cao lương nên chẳng móc chuyện người
            Chén tiếp chén …tay chuyền tay dân dã
            Kiếp nông bần uống rượu… cũng kiệm lời

       Chẳng khoa trương chuyện thương nòi yêu nước
       Mà sử sách ghi mỏi trang bốn ngàn
        Chân lấm tay bùn trí soi văn sách
        Khoa bảng vọng đồng văn thánh còn ngân

“Hắt một chén” có nghĩa là không phải uống vào bụng mà làm cho rượu bay ra không gian. Đây là khẩu khí của những con người hào kiệt rưới rượu giữa đất trời, bày tỏ khí phách hiên ngang của mình cùng sông núi.
Những chén tiếp theo nhà thơ chuyền tay cho bạn mình là những con người dân dã, nông bần, “kiệm lời” vì mang tâm tư sâu kín. Họ chẳng khoa trương vọng ngữ nhưng “Chân lấm tay bùn mà trí soi văn sách” Hai vế thơ nầy bày tỏ khí phách cúa những con người nhập tiệc, sự điềm đạm tỉnh táo của lớp người có nhân cách trước thế gian. Họ chỉ là người dân dã nhưng minh triết ở tâm hồn.
  Vế tiếp theo có khẩu khí sảng khoái nhất của bài thơ, như anh chàng nông dân lại múa kiếm nhuần nhuyển giữa đất trời, toát ra cái hào khí ngất trời từ trong chiếc áo nâu:  

             Hắt chén nữa ruộng mương là chăn chiếu
             Có ói đây cũng phân bón đất cày
             Cho mầm tươi nứt- trổ bông hào kiệt
             Dẫu tắt hơi ! thân hóa cỏ đê này

Cái hào khí trong chiếc áo nâu đó nhà thơ muốn không chỉ có ở đời nầy mà nó phải lưu truyền cho thế hệ sau. Dùng ruộng mương làm chăn chiếu, ói cái chất văn chương minh triết của mình để bón phân cho đất, và chôn xác mình nơi đây để hoá cỏ cho đời là lý tưởng tuyệt đối của nhà thơ. Lý tưởng đó không khó với người nông dân bình thường nhưng rất khó với người nông dân trí thức vì chim cánh rộng thì phải bay xa, mấy ai làm kẻ sĩ lại chôn chân mình nơi đồng ruộng được đâu. Nhưng nếu kẻ sĩ  chôn được chân mình nơi đồng ruộng thì nó sẽ biến thành đóa sen đẹp hoàn toàn như vế chót của bài thơ :

         Lý lịch trơn nhờ bùn đất tắm gội
         Hãy giữ gìn tinh khiết khi lỡ say
         Như sen kia chẳng làm dơ nguồn cội
         Vẫn ngát hương thơm hiến cuộc đời này…!

Cuộc đời nầy rất cần nhiều nhân vật trong thơ lê Đăng Mành vì mấy ai chịu “giữ gìn tinh khiết khi lỡ say”, bởi vì họ chẳng say “Tiệc rượu giữa đồng” mà say trên bàn cao ghế đẹp.

   Bài thơ “Tiệc rượu giữa đồng” là một triết lý sống
thanh cao lồng trong một phong cách sống thanh bần.
Ý nghĩa của bài thơ thật sâu xa lồng trong lời thơ thanh thoát.
Rất tiếc người bình không viết đạt những gì mình cảm nhận trong thơ ./.

                                                                                         Châu Thạch
Cập nhật lại theo nguyên bản của tác giả gửi từ:
van tran
truongvantran@hotmail.com