THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Chiêu Đức. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đỗ Chiêu Đức. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

HƯƠNG trong Truyện Kiều


Tạp Ghi và Phiếm Luận :

HƯƠNG trong Truyện Kiều
HƯƠNG 鄉 là Làng Quê, là Quê Hương, HƯƠNG 香 là Mùi Thơm, là Hương Thơm, HƯƠNG 香 là Nhang, là Hương Khói, Hương lửa ... Ta sẽ lần lượt điểm qua về các nghĩa của chữ HƯƠNG nầy trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du nhé !...
Trước tiên, HƯƠNG là Quê Hương, là "chùm khế ngọt" của những kẻ lưu vong xa quê như chúng ta hiện nay, còn đối với những người còn ở lại trong nước thì nó là "chùm khế chua lè !" của đám dân nghèo đầu tắt mặt tối vẫn không kiếm đủ miếng ăn. Hương cũng là chữ thuộc dạng Hội Ý của Lục Thư trong "CHỮ NHO...DỄ HỌC" có diễn tiến như sau :
Ta thấy :
Giáp Cốt Văn là hình tượng của hai người  ngồi với tư thế qùy đối diện với nhau, ở giữa là một cái đôn nhỏ trên có đặt một cái mâm như mâm xôi vun lên; với Hội Ý là : Hai người cùng ngồi ăn hay cùng thảo luận với nhau về việc gì đó; Ý là người cùng ở chung một nơi ngồi lại với nhau, nên HƯƠNG 鄉 là Làng xã, là nơi ta  được sinh ra và lớn lên, là nơi mà trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư ngày xưa viết "Chỗ quê hương là nơi đẹp hơn cả ! "
HƯƠNG 鄉 là Làng , THÔN 村 là Xóm. Nên Hương Thôn là Làng Xóm, là đơn vị tổ chức hành chánh nhỏ nhất của xã hội ngày xưa. Trong làng thì có ban Hương Chức Hội Tề, Hương Thân Phụ Lão, Hương Sư,   Hương Quản, Hương Tuần ...
Quê Hương là danh từ chung có ý nghĩa bao quát từ gần tới xa, từ nhỏ tới lớn. NHỎ là làng xã, là nơi chôn nhau cắt rốn, GẦN là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, là quận huyện nơi ta cư ngụ, LỚN hơn XA hơn   nữa là tỉnh thành xứ sở nơi ta ở và LỚN nhất XA nhất là đất nước do các đấng tiền nhân và ông cha ta đã đổ bao xương máu để gây dựng nên, là Quê Hương VIỆT NAM của chúng ta đó. Cho nên, dù bất cứ đi đâu đến đâu, con người ta cũng nhớ đến Quê Hương. Trước cảnh lạ dù có đẹp đến đâu, khi chiều xuống chỉ cần một làn khói lam chiều ẻo lả bốc lên từ một bếp lửa nhà ai, hay một làn khói sóng bốc nhẹ trên mặt sông cũng làm cho ta chạnh nhớ đến quê hương, như hai câu cuối trong bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu :
Nhật mộ HƯƠNG QUAN hà xứ thị ?         日暮鄉關何處是?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu !         煙波江上使人愁!
mà cụ Tản Đà đã diễn Nôm rất hay là :
QUÊ HƯƠNG khuất bóng hoàng hôn,
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai !
QUAN 關 là Quan ải thành quách nơi ta cư ngụ, nên Hương Quan cũng dùng để chỉ Quê Hương, như khi Thúy Kiều ở lầu xanh nhớ về Quê Hương :
Mối tình đòi đoạn vò tơ,
Giấc HƯƠNG QUAN luống lần mơ canh dài.
Song sa vò võ phương trời,
Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng.
Quê Hương có nhà cửa của ông bà cha mẹ và của... ta nữa, nên còn được gọi là GIA HƯƠNG 家鄉, như khi tưởng Thúy Kiều đã chết, Thúc sinh buồn tình nên mới nhớ tới vợ nhà (đàn ông lúc nào cũng bạc bẽo là thế ! Bồ nhí chết rồi mới nhớ tới vợ), nên mới :
Chạnh niềm nhớ cảnh GIA HƯƠNG,
Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê.
Cũng là Quê Hương, nhưng là quê hương bên ngọai, thì được gọi là NGOẠI HƯƠNG 外鄉, như gia đình Vương Viên Ngoại đã "biện dâng một lễ" để " mừng thọ Ngoại gia" vậy. Đến khi Thúy Kiều tiễn Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú xong rồi mới ...
Tần ngần dạo gót lầu trang,
Một đoàn mừng thọ NGOẠI HƯƠNG mới về,
Không phải quê hương của mình, mà là quê hương của người khác, thì gọi là THA HƯƠNG 他鄉. Kẻ sống ở quê hương của người khác thì gọi là "KẺ THA HƯƠNG". Thúc phụ là chú của Kim Trọng chết ở nơi đất khách, cho nên gia đồng mới ...
Đem tin thúc phụ từ đường,
Bơ vơ lữ thấn THA HƯƠNG đề huề.
Đề Huề 提攜 vốn nghĩa là Mang, Xách. Ở đây dùng để chỉ  "mang về". Nên câu " Bơ vơ lữ thấn THA HƯƠNG đề huề". Có nghĩa : Mang cái quan tài bơ vơ từ tha hương về quê. Kẻ ở tha hương ngóng trông về quê cũ, Quê Cũ chữ Nho gọi là CỐ HƯƠNG 故鄉, như Thúy Kiều khi khuyên Từ Hải quy hàng cũng đã có dự tính riêng cho mình là :
Công tư vẹn cả hai bề,
Dần dà rồi sẽ liệu về CỐ HƯƠNG.
Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha.
Không gọi là CỐ HƯƠNG thì gọi là CỐ QUỐC. Chữ QUỐC 國 được viết bởi bộ VI 囗 là cái Khuôn viên, cái Vòng rào để chỉ Ý và chữ HOẶC 或 bên trong để chỉ ÂM. Nên QUỐC 國 là "Cái vòng rào, cái khuôn viên nơi ta cư ngụ, là Làng, xã, quận, huyện, tỉnh thành... và Rộng hơn nữa là Nước mà ta đang ở. Nên CỐ QUỐC ta thường hiểu là Nước Cũ, nhưng cũng có nghĩa là CỐ HƯƠNG là Quê Cũ, như khi tiễn Từ Hải đi làm việc lớn rồi thì Thúy Kiều ở lại có một mình, nên nàng cũng nhớ nhà, nhớ cha mẹ, nhớ quê hương :
Tấc lòng CỐ QUỐC tha hương,
Đường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời.
Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm !
Đó là chữ HƯƠNG 鄉 chỉ Quê Hương có "chùm khế ngọt" !
Còn...
Chữ HƯƠNG 香 nầy, chữ Nho có nghĩa là THƠM; chữ Nôm ta lại ghép chữ Hương này với nghĩa Thơm của nó lại thành một từ kép HƯƠNG THƠM dùng để chỉ Mùi Thơm. Như HƯƠNG THƠM NGÀO NGẠT là MÙI THƠM THƠM THẬT là THƠM. HƯƠNG cũng là một trong 214 bộ của "CHỮ NHO ... DỄ HỌC", cũng là dạng chữ Hội Ý trong Lục Thư theo diễn tiến của chữ viết như sa
Ta thấy :
Giáp Cốt Văn và Đại Triên là chữ HÒA 禾 là hình tượng của cây lúa chín với bông lúa oằn xuống bên trái ở trên đầu và các hột lúa chín rơi xuống hai bên, phía dưới là chữ CAM 甘 là NGỌT, với HỘI Ý là : Mùi ngọt của cây lúa chín là mùi thơm của hạt lúa nuôi sống con người. Nên HƯƠNG là THƠM, mùi thơm để duy trì cuộc sống; dùng rộng ra để chỉ tất cả các mùi thơm trên đời nầy.
Nói đến HƯƠNG là người ta nghĩ ngay đến HOA HƯƠNG 花香 là mùi thơm của hoa, của các loại hoa cỏ, mùi thơm của thực vật, còn mùi thơm của con người thì chỉ ưu tiên độc quyền cho mấy bà mấy cô mà thôi ! Cũng khó trách, vì từ xưa đến nay ông bà ta đã ví hoa như là người đẹp, hay nói đúng hơn là những  người đẹp, những giai nhân, được ví đẹp như hoa của nước, thơm như hương của trời, nên còn gọi là SẮC NƯỚC HƯƠNG TRỜI, là QUỐC SẮC THIÊN HƯƠNG 國色天香. Khi nói về cuộc đời tài sắc của Đạm Tiên, Vương Quan đã tỏ ra rất tiếc thương cho người đẹp :
Phận hồng nhan có mong manh,
Nửa chừng xuân thoắt gãy cành THIÊN HƯƠNG.
Người đẹp luôn luôn phảng phất mùi hương, nên tiếc thương người đẹp thì gọi là THƯƠNG HƯƠNG TIẾC NGỌC. Khi tả Kim Trọng nhớ Thúy Kiều thì cụ Nguyễn Du cũng viết là :
HƯƠNG gây mùi nhớ, trà khan giọng tình.
Người đẹp ở lối xóm lân cận thì gọi là HƯƠNG LÂN 香鄰, là cô hàng xóm thơm phức, như Kim Trọng đã nói về Thúy Vân Thúy Kiều :
Trộm nghe thơm nức HƯƠNG LÂN,
Một nền Đồng Tước khóa xuân hai Kiều.
Đến khi mướn được cái hiên Lãm Thúy ở sát cạnh nhà Thúy Kiều "canh me" để gặp mặt người đẹp, cho nên đến một hôm "Cách tường phải buổi êm trời, dưới đào dường có bóng người thướt tha", thì Kim Trọng đã vội vàng :
Buông cầm sóc áo vội ra,
HƯƠNG còn thơm nức người đà vắng tanh.
Không biết là Thúy Kiều đã sức dầu thơm loại gì  mà "người đà vắng tanh" trong khi HƯƠNG vẫn còn thơm nức !? Người đẹp ngày xưa chưa có dầu thơm mà đã "thơm" được như thế sao ?! Ngay cả đồ trang sức của người đẹp  cũng có mùi thơm thoang thoảng, như khi vớ được cành kim thoa của Thúy Kiều, thì Kim Trọng đã :
Liền tay ngắm nghía biếng nằm,
Hãy còn thoang thoảng HƯƠNG TRẦM chưa phai.
Cành trâm còn có Hương Trầm, chả trách dải khăn là của Thúy Kiều cũng phảng phất mùi hương :
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là HƯƠNG lộn bình gương bóng lồng.
Cho đến hồn ma của con ma Đạm Tiên khi hiện lên cũng có mùi thơm, như :
Ào ào đổ lộc rung cây,
Ở trong dường có HƯƠNG bay ít nhiều.
Khuê phòng của người đẹp ở thì gọi là HƯƠNG KHUÊ, như khi Thúc Sinh nghe tiếng tài sắc của Thúy Kiều mà tìm đến vậy :
Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi,
Thiếp danh tìm đến HƯƠNG KHUÊ gởi vào.
Nhà ở của Hoạn Thư thì gọi là Nhà Hương. Như Thúc Sinh sau khi ngỡ Thúy Kiều đã chết, chàng đã  "Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương, Nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê", và sau khi "Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa" thì :
NHÀ HƯƠNG cao cuốn bức là,
Buồng trong kíp gọi nàng ra lạy mừng.
XE của Hoạn Thư đi cũng được gọi là XE HƯƠNG. Khi đã khuyên Thúc Sinh trở về Lâm Truy thăm cha với lời lẽ của cô dâu thảo :"Cách năm mây bạc xa xa, Lâm Truy cũng phải tính mà thần hôn", và khi Thúc Sinh vừa ra đi thì nàng Hoạn cũng lên XE HƯƠNG về nhà "mét má" :
Gió câu vừa gióng dặm trường,
XE HƯƠNG nàng cũng thuận đường quy ninh.
Thưa nhà huyên hết mọi tình,
Nỗi chàng ở bạc, nỗi mình chịu đen.
Tương tự như trên, phòng của Thuý Kiều ở nhà Thúc Sinh gọi là PHÒNG HƯƠNG. Khi Khuyển Ưng bắt Thúy Kiều đi rồi vớt xác vô chủ bên sông bỏ vào nhà đang cháy, nên tớ thầy Thúc Ông tưởng Thúy Kiều đã bị chết thiêu :
Chạy vào chốn cũ PHÒNG HƯƠNG,
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn.
Ngay tình ai biết mưu gian,
Hẳn nàng thôi lại còn bàn rằng ai!
Cái gì của mấy bà mấy cô cũng có chữ HƯƠNG chen vào cả. Ngay cả Mồ-Hôi của phái nữ cũng được gọi là HƯƠNG HẠN 香汗 là MỒ HÔI...THƠM ! Thành ngữ  HƯƠNG HẠN LÂM LI 香汗淋漓 dùng để diễn tả Mồ Hôi nhuễ nhại của qúy bà qúy cô sau khi làm việc nặng hay tập thể dục chẳng hạn. Ai bảo là đàn ông Châu Á không biết "ga-lăng", không biết "Nịnh Đầm" đâu ?!  Chỉ có những gả đàn ông thô bạo mày râu nhẵn nhụi như Mã Giám Sinh mới không biết Tiếc Ngọc Thương Hương mà thôi :
Một cơn mưa gió nặng nề,
Thương gì đến NGỌC tiếc gì đến HƯƠNG.
Người đẹp là Hương là Ngọc, cho nên ta phải biết Thương Hương Tiếc Ngọc. Như khi Thúy Kiều "Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang" thì :
Thổ quan theo vớt vội vàng,
Thời đà đắm NGỌC chìm HƯƠNG mất rồi!
Hương lan từ Phấn, Phấn tỏa  làn Hương. Hương phấn phấn hương hòa quyện lấy nhau tạo thành mùi  hương và vẻ đẹp của người đẹp. Nên còn Phấn còn Hương là còn trẻ còn đẹp, nên Thúy Kiều đã e ngại và lo lắng khi Thúc Sinh muốn gá nghĩa trăm năm với mình :
Bình Khang nấn ná bấy lâu,
Yêu hoa yêu được một mầu điểm trang
Rồi ra lạt PHẤN phai HƯƠNG,
Lòng kia giữ được thường thường mãi chăng?
Những người chuyên trục lợi trên thân xác của các cô gái trẻ đẹp, thì được gọi là chuyên "buôn phấn bán hương" hay "buôn hương bán phấn" như Tú Bà với Mã Giám Sinh vậy :
Mạt cưa mướp đắng hai bên một phường
Chung lưng mở một ngôi hàng,
Quanh năm buôn PHẤN bán HƯƠNG đã lề.
Thương nhớ người đẹp cũng là nhớ thương đến cái "hương gây mùi nhớ" như Thúc Sinh sau khi đã mất Thúy Kiều rồi, nhìn vầng trăng non mà thương xót :
Mày ai trăng mới in ngần,
PHẤN thừa HƯƠNG cũ bội phần xót xa.
HƯƠNG còn là mùi thơm thoang thoảng nhẹ nhàng, phảng phất như những ước mơ nguyện vọng hoài bão ở trong lòng muốn thể hiện, muốn dâng lên, muốn thỉnh cầu với các đấng thiêng liêng... Nên, HƯƠNG còn là HƯƠNG KHÓI, HƯƠNG LỬA, là NHANG ĐÈN ... để thể hiện tâm nguyện của mình, như Thúy Kiều đã khấn vái  cầu nguyện cho thân phận lẻ mọn của mình khi Thúc Sinh về thăm vợ cả là Hoạn Thư :
NÉN HƯƠNG đến trước Phật đài,
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân.
Nhang đèn, hương khói, hoa qủa là những thứ không thể thiếu trong tín ngưỡng dân gian suốt mấy ngàn năm của nền văn hóa dân tộc chịu ảnh hưởng của Phật giáo, nên nghe Thúy Kiều muốn đi tu, thì Hoạn Thư đã vội vàng khi :
Tâng tâng trời mới bình minh,
HƯƠNG HOA, ngũ cúng, sắm sanh lễ thường.
Đưa nàng đến trước Phật đường,
Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia !
... Hoạn Thư cũng đã rất chu đáo với :
Sớm khuya sắm đủ dầu đèn,
Xuân, Thu, cắt sẵn hai tên HƯƠNG TRÀ.
... nên Thúy Kiều cũng đã :
Phật tiền thảm lấp sầu vùi,
Ngày pho thủ tự, đêm nồi TÂM HƯƠNG.
Vì thế, sau này ở Chiêu Ẩn Am với sư Giác Duyên thì Thúy Kiều cũng đã :
Kệ kinh câu cũ thuộc lòng,
HƯƠNG ĐÈN việc cũ, trai phòng quen tay.
HƯƠNG ĐÈN là HƯƠNG HỎA chỉ việc cúng tế thờ phượng, nhưng nếu nói thành HƯƠNG LỬA hay LỬA HƯƠNG thì người ta lại nghĩ ngay đến HƯƠNG LỬA BA SINH hay BA SINH HƯƠNG LỬA để chỉ tình duyên của đôi lứa gái trai (xem Thành Ngữ Điển Tích 53 : HƯƠNG). Trai gái yêu nhau, hẹn hò với nhau là đã có LỬA có HƯƠNG với nhau rồi, nên khi đã hẹn ước với nhau rồi mà suốt tháng vẫn chưa có dịp gặp mặt để hàn huyên tâm sự, nên chàng Kim Trọng đã mở miệng than phiền với Thúy Kiều :
Trách lòng hờ hững với lòng,
LỬA HƯƠNG chốc để lạnh lùng bấy lâu.
khiến cho Thúy Kiều phải lên tiếng an ủi :
Nàng rằng:"Gió bắt mưa cầm...
Đã cam tệ với tri âm bấy chầy.
Vắng nhà được buổi hôm nay,
Lấy lòng, gọi chút, ra đây tạ lòng !
Ta thấy khi đã yêu nhau rồi thì gái trai gì đều đắm đuối mê mẫn như nhau. Khi đã chuộc Thúy Kiều từ lầu xanh về để " Một nhà sum hợp trúc mai" cho "Càng sâu nghĩa bể càng dài tình sông" rồi, cụ Nguyễn Du còn hạ thêm hai câu để chỉ sự khắng khít đam mê sôi nổi hơn của đôi lứa yêu nhau là :
HƯƠNG càng đượm LỬA càng nồng,
Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu sen.
Qủa là những câu thơ sinh động gợi hình một cách kín đáo nên thơ của Truyện Kiều, nó không phải là những quyến luyến thường tình như sau nầy Thúy Kiều phải chia tay với Từ Hải :
Nửa năm HƯƠNG LỬA đang nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Đến câu nói trơ trẻn muốn tống khứ Thúy Kiều cho Thổ Quan của Hồ Tôn Hiến, thì từ HƯƠNG LỬA chỉ là cái cớ bị người nói lợi dụng mà thôi :
Dạy rằng HƯƠNG LỬA ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai ?
Nhưng đến lời than vãn tâm sự của chàng Kim khi trở lại vườn Thúy tìm Kiều không gặp, thì từ LỬA HƯƠNG lại đầy tình nghĩa lứa đôi một cách chân thành thắm thiết :
Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
MẢNH HƯƠNG còn đó phím đàn còn đây,
Đàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,
LỬA HƯƠNG biết có kiếp này nữa thôi?

Chàng Kim qủa là người tình chung thủy hiếm có, trong qúa trình tìm kiếm Thúy Kiều chàng luôn tỏ ra rất chân thành nhớ đến Kiều chớ không phải chỉ tìm lấy có :
Thề xưa giở đến kim hoàn,
Của xưa lại giở đến ĐÀN với HƯƠNG.
... và ...
Có khi vắng vẻ thư phòng,
Đốt LÒ HƯƠNG giở phím đồng ngày xưa.

chàng luôn luôn nhớ đến lời ước nguyện với Thúy Kiều :
Mất người còn chút của tin,
Phím đàn với mảnh HƯƠNG NGUYỀN ngày xưa.
như  lời Thúy Kiều trối lại trước lúc ra đi :
Mai sao dù có bao giờ.
Đốt LÒ HƯƠNG ấy, so tơ phím này.
Nhưng khi đến Hàng Châu thì đã dò hỏi và biết được :"Rằng ngày hôm nọ giao binh, thất cơ Từ đã thu linh trận tiền" và "Nàng Kiều công cả chẳng đền, Lệnh quan lại bắt ép duyên Thổ-tù", nên "Nàng đà gieo ngọc, trầm châu, Sông Tiền-đường đό, ấy mồ hồng-nhan!". Vì thế mà cả nhà cứ đinh ninh là Thúy Kiều đã chết đuối :
Rõ ràng HOA rụng HƯƠNG bay,
Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi.
Khi đã đoàn viên với nhau rồi, mọi người đều muốn cho Kim Kiều tái hợp, nhưng Thúy Kiều vì nghĩ thân mình "Bấy chầy gió táp mưa sa, mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn" nên đã từ chối khéo :
Lại như những thói người ta,
Vớt HƯƠNG dưới đất bẻ HOA cuối mùa.
Nhưng, cuối cùng thì đôi đứa vẫn làm lễ nên duyên, mặc dù "Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ", nên lại :
Thêm nến giá nối HƯƠNG BÌNH,
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh Giao Hoan.
"Giao Hoan" 交歡. GIAO 交 là Qua lại với nhau, như Giao Tình 交情 là Tình cảm qua lại với nhau. HOAN 歡 là Hoan Lạc 歡樂 là Vui vẻ. Nên GIAO HOAN 交歡 là "Cùng vui vẻ qua lại với nhau". Như câu thơ trên " Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh Giao Hoan" có nghĩa là : "Cùng chuốc chén rượu quỳnh tương để cùng vui với nhau" mà thôi. Nhưng, hễ thấy chữ GIAO HOAN là người ta lại nghĩ ngay đến sự làm tình giữa trai gái với nhau. Thế thì tại sao cụ Nguyễn Du lại dùng chữ GIAO HOAN ở đây, mà không dùng chữ ĐỒNG HOAN, TƯƠNG HOAN hay CỘNG HOAN đều có nghĩa là CÙNG VUI, mà lại dùng từ GIAO HOAN ?! Cụ có dụng ý hay muốn ám chỉ gì chăng ?! Hay cụ muốn ngầm cho người đọc hiểu rằng : Trai gái gần nhau như lửa gần rơm thì làm sao có thể chỉ " Khi chén rượu khi cuộc cờ, Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên" không cho được. Chuyện "Giao Hoan" là chuyện thực tế của cuộc sống, sớm muộn gì cũng chắc chắn sẽ xảy ra mà thôi. Sẵn nhớ lại...
Có một lần lang thang trên mạng, đọc thấy một bài viết về tài "nói lái" của cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều với trích đoạn cái đêm KIM KIỀU hội ngộ. Sau khi "Đến nhà vừa thấy tin nhà, Hai thân còn dở tiệc hoa chưa về" Kiều bèn "Cửa ngoài vội rủ rèm the, Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình" gặp Kim Trọng một  lần nữa trong đêm để cùng nhau thề ước :
...Tóc tơ căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà sánh giọng quỳnh tương,
Dải là hương lộn bình gương bóng lồng.
Sinh rằng: Gió mát trăng trong,
Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam.
Chày sương chưa nện cầu Lam,
Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng?
Đoạn trên có một câu tối nghĩa:"Dải là hương lộn bình gương bóng lồng". DẢI LÀ là Dải khăn là khăn tay của Kiều có mùi HƯƠNG thì đúng rồi, nhưng sau lại là HƯƠNG LỘN, LỘN ở đây rất tối nghĩa. Sao không phải là DẢI LÀ HƯƠNG THOẢNG, DẢI LÀ HƯƠNG TỎA hay DẢI LÀ HƯƠNG ĐƯỢM... mà phải là DẢI LÀ HƯƠNG LỘN ? Phải chăng cụ Tiên Điền nhà ta đang chơi trò nói lái ? Và ...chính cái "LÀ HƯƠNG LỘN" đó đã làm cho Kim Trọng phải nói là "Bấy lâu nay một chút lòng chưa cam" và đòi hỏi :"Chày sương chưa nện cầu Lam,  Sợ lần khân quá ra sàm sỡ chăng ?"...
Biết đâu được ! Vì cụ Nguyễn Du cũng là người sống cùng thời với "Bà chúa thơ Nôm" và lại còn có truyền thuyết cho là "Giữa Hồ Xuân Hương và đại thi hào Nguyễn Du còn có một mối tình ?" Và "BÀ CHÚA THƠ NÔM HỒ XUÂN HƯƠNG" lại là Bà Chúa chuyên "nói lái" trong thi ca mà ! Sự thật ra sao thì chưa được rõ...
Chỉ trình bày cho rộng đường... phiếm luận !
Xin được kết thúc bài phiếm về "HƯƠNG trong Truyện KIỀU" với..."LÀ HƯƠNG LỘN" ở trên !
Hẹn bài viết tới !
Đỗ Chiêu Đức

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2020

ĐỊA là ĐẤT


Phiếm về
ĐỊA là ĐẤT
Thổ 土 là Đất, Địa 地 cũng là Đất, là Địa Cầu 地球 , là qủa đất mà chúng ta đang cư trú. Theo bài học thuộc lòng của lớp Đồng Ấu ngày xưa :
                    Đi cho biết đó biết đây,
                    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
                    Kìa thế giới năm châu quanh quất,
                    Đường bao nhiêu thì đất bấy nhiêu,
                    Sông to núi lớn cũng nhiều,
                    Đường đi lối lại trăm chiều ngổn ngang...
       Thế giới có Năm Châu Bốn Biển.
Năm Châu là :
       Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Úc ( còn gọi là Châu Đại Dương  ). Nhưng theo quy ước của đa số các nước trên thế giới thì có đến 6 Châu, vì sau nầy người ta còn khám phá ra một vùng đất mới ở Nam Cực, gọi là Châu Nam Cực. Nhưng... lại nhưng, theo Mỹ thì Châu Mỹ gồm 2 châu lục là Nam Mỹ Châu và Bắc Mỹ Châu. Nên Thế Giới của người Mỹ có đến 7 châu lục, chớ không còn là 5 châu nữa ! Còn ...
Bốn Bể là bốn Đại Dương gồm có :
Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Bắc Băng Dương. Ngày trước còn có thêm một Nam Băng Dương nữa, vì người ta cứ ngỡ là nếu băng tan chảy hết thì sẽ là một đại dương như ở vùng Bắc Cực, nhưng nay đã biết rằng nó là một châu lục : Châu Nam Cực chớ không phải là một băng dương nữa !

Bốn Biển là do từ Tứ Hải 四海 của người Hoa mà ra. Khi xưa, khoa học địa lý chưa phát triển, người Hoa cứ tưởng Thiên Hạ là đất Trung Nguyên, và mảnh đất nầy được bao quanh bởi 4 biển Đông Tây Nam Bắc. Theo cái Thế Giới Quan nầy, Bốn Biển tức là Thiên Hạ đó, cho nên trong thi từ ca phú của văn học xưa hay nhắc đến câu : Tứ Hải giai Huynh đệ 四海皆兄弟 là " Bốn bể đều là anh em ". Vân du tứ hải 雲遊四海 là : Lang bạt khắp nơi, và để chứng tỏ có chí hơn người còn lớn giọng mà ngâm rằng : Đại trượng phu tứ hải vi gia 大丈夫四海為家 là : Đấng đại trượng phu thì lấy bốn biển làm nhà, để tỏ ra ta đây có chí lớn !
Trở lại với từ Địa Cầu 地球 là Trái Đất, là hành tinh xanh trong Thái dương hệ có sự sống của trên hàng triệu sinh vật, trong đó có con người, có chúng ta. Chữ Địa 地 vốn nghĩa là "Mảnh đất" thuộc bộ Thổ 土 là Đất theo diễn tiến của chữ viết như sau :
Cách tính năm theo Tử Vi Đẩu Số thì trên có Thiên Can 天干 là : Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Qúy 甲、乙、丙、丁、戊、己、庚、辛、壬、癸, gọi là Thập vị Thiên Can; còn dưới thì có Địa Chi 地支 là: Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi 子、丑、寅、卯、辰、巳、午、未、申、酉、戌、亥”, gọi là Thập Nhị Địa Chi. Cứ một Thiên Can thì ghép với một Địa Chi, như :
Giáp   ghép với   Tý là     Giáp Tý 甲子.
              Ất      ghép với   Sửu là   Ất Sửu
乙丑.
              Bính   ghép với   Dần là   Bính Dần
丙寅 ...
cứ thế mà ghép... Nhưng vì Thiên Can chỉ có 10 mà Địa Chi đến 12, cho nên ghép đến khi giáp một vòng trở lại Giáp Tý là 60 năm, gọi là một HOA GIÁP. Nói cho dễ hiểu : Đứa bé nào sanh ra trong  năm nay là năm Canh Tý 2020 ( 1 tuổi ), thì đến năm 61 tuổi ta  cũng sẽ là năm Canh Tý ( 2080 ). Sống được "Sáu Mươi Năm Cuộc Đời" thì gọi là "Sống được MỘT HOA GIÁP", nên kể là "HƯỞNG THỌ" sáu mươi mốt tuổi. Còn chết dưới 60 tuổi thì chỉ gọi là HƯỞNG DƯƠNG. Như ông ấy chỉ "hưởng dương" có 59 tuổi mà thôi !
Thập Nhị Địa Chi còn dùng để tính giờ theo Tử Vi Đẩu Số, như :
      * Giờ Tý là từ 11 giờ đêm hôm trước cho đến 01 giờ sáng của ngày hôm sau. Cho nên ta mới thường nghe câu :
                      Nửa đêm, giờ Tý, canh ba,
                   Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi !
               ... tất cả đều "sem-sem" như nhau !
      * Giờ Sửu là từ 01 giờ đến 03 giờ sáng.
      * Giờ Dần là từ 03 giờ đến 05 giờ sáng. Nên ta mới có câu : " Trời sáng giờ Dần, Nắng lên giờ Mão ". Vì...
      * Giờ Mão là từ 05 đến 07 giờ sáng. Nên các cụ Đồ xưa lại có câu :
Mạc ẩm Mão thời tửu,  莫飲卯時酒,
                    Hôn hôn túy đáo Dậu. 
昏昏醉到酉。
Có nghĩa :
         Đừng bao giờ uống rượu vào giờ Mão, vì sẽ...
         Say say xỉn xỉn cho đến giờ Dậu (là 05 giờ chiều đến 07 giờ tối).
Vậy là suốt ngày sẽ say xỉn mà không làm ăn gì được cả !, Và vì ...
      * Giờ Dậu là từ 05 giờ chiều cho đến 07 giờ tối, nên lại có câu :
                    Mạc mạ Dậu thời thê,  
莫罵酉時妻,
                    Nhất dạ thụ cô thê.      
一夜受孤悽。
Có nghĩa :
        Đừng mắng vợ vào giờ Dậu, vì mắng vào giờ nầy thì...
        Suốt đêm phải chịu cô đơn lạnh lẽo một mình !( Vợ chồng "cải lộn" vào buổi chiều tối thì suốt đêm cũng sẽ chẳng "làm ăn" gì được cả !). Ông bà ta ngày xưa cũng "tâm lý" chán !
Địa 地 là Đất, cho ta các từ Địa Cầu 地球 là Trái đất; Địa Xác 地壳 là Vỏ trái đất, Địa Chất 地質 là Chất cấu tạo và giá trị lịch sử của các lớp đất, Địa Tâm 地心 là Lòng đất, Địa tâm dẫn lực 地心引力 là Sức hút của lòng trái đất tạo nên trọng lượng trên mặt đất ... Nếu bỏ chữ Tâm ra phía trước ta sẽ có từ ...
     * Tâm Địa
心地 : Chỉ lòng dạ sâu kín của con người, như Tâm Địa Thiện Lương 心地善良 là Lòng dạ hiền lành; Tâm Địa Hiễm Độc 心地險毒 là Lòng dạ nham hiễm ác độc, như cô Kiều đã đánh giá Sở Khanh :
                       Nàng rằng thề thốt nặng lời,
                    Có đâu mà lại ra người hiễm sâu.
hay như cụ Nguyễn Du nói về Hoạn Thư :
                       Bề ngoài thơn thớt nói cười,
              Mà trong nham hiễm giết người không dao !
Trong tiếng Nôm ta cũng có từ " Độc Địa " vốn để chỉ " Tâm địa độc ác ", nhưng sau dùng rộng ra để chỉ tất cả những thứ gì có hại, không có lợi, như : Món ăn đó độc địa lắm; lời nói đó thật độc địa...
Mặt đất bằng phẵng thì gọi là Bình Địa 平地, nên thành ngữ Bình Địa Ba Đào 平地波濤 là Đất bằng dậy sóng, như khi về nhà thấy Thúc Sinh đã chuộc Thúy Kiều là một cô gái lầu xanh về chung sống, Thúc Ông đã " sốt gan ông mới cáo quỳ cửa công ", gây nên cảnh :
                      Đất Bằng Nổi Sóng đùng đùng,
                 Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra.
... và như  trong bửa tiệc đoàn viên, sau khi đã " Tàng tàng chén cúc dở say " Thúy Vân mới đứng dậy phân bua :
                      Rằng : Trong tác hợp cơ trời,
                    Hai bên gặp gỡ một lời kết giao.
                      Gặp cơn Bình Địa Ba Đào,
               Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Cũng là phận cải duyên kim,
Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao !...
Bỏ hết đi phần ao hồ, sông ngòi, biển cả, thì một phần ba còn lại của qủa địa cầu nầy là Lục Địa 陸地, là phần Đất Liền mà chúng ta đang ở. Lục 陸 là Bờ bến, là đất liền, nên Đăng Lục 登陸 là Đổ Bộ, như Đăng Lục Nguyệt Cầu 登陸月球 là Đổ Bộ lên mặt trăng; ; Thuỷ quân lục chiến 水軍陸戰 là Lính Thủy đánh bộ, Lục Quân 陸軍 là Lính tác chiến trên bộ để phân biệt với Hải quân 海軍 là Lính đánh nhau dưới biển và Không quân 空軍 là Lính bay trên trời bắn nhau và bỏ bom xuống !
Tất cả đất đai trên bề mặt địa cầu đều gọi là Thổ nhưỡng 土壤 hay Thổ Địa 土地. Đất để canh tác ruộng nương là Điền Địa 田地, đất để ở là Cư Địa 居地, ta gọi là Địa Cư. Cơ quan trông coi và quản lý đất đai gọi là Địa Chính 地政. Người sỡ hữu đất đai gọi là Địa Chủ 地主. Hình thể của miếng đất là Địa Hình 地形, Cái thế cao thấp hiễm trở hay thuận lợi của đất là Địa Thế 地勢...
Địa 地 còn là từ chỉ nơi chốn, như Địa Điểm 地點, Địa Chỉ 地址, Địa Phận 地份, Địa Khu 地區, Địa Bàn 地盤, Địa Đầu 地頭 ... Ta có thành ngữ :
     * Địa Đầu Giới Tuyến
地頭界線 là nơi giáp ranh biên giới với nước láng giềng, nơi mà các anh lính thú ngày xưa trấn thủ lưu đồn, hay các anh lính chiến VNCH gác giặc ở tiền đồn hiu hắt.
* Thử Địa 此地 là Đất nầy, là Nơi đây, như bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất hay của Sầm Tham đời Đường như sau :
                 
此地曾居住,   Thử địa tằng cư trú,
                 
今來宛似歸。   Kim lai oản tự quy.
                 
可憐汾上柳,   Khả lân Phần thượng liễu,
                 
相見也依依。   Tương kiến dã y y !
Có nghĩa :
              Nơi nầy trọ những năm qua,
              Nay về thăm lại như là người thân.
              Thương thay hàng liễu sông Phần,
              Gặp nhau quyến luyến như không nở rời !
Bề mặt của Địa Cầu là Mặt Đất, Nơi sinh sôi nẩy nở của các nguồn sống, kể cả động vật và thực vật, mà cũng là nơi an nghỉ cuối cùng cho muôn loài vạn vật. Vui từ đất mà ra, buồn cũng từ đất mà ra và oán hận thì lại tìm về với đất. Ta hãy nghe lời thơ của Vi Thừa Khánh 韋承慶 với bài Nam Hành Biệt Đệ 南行別弟 ( Giả biệt em trai xuôi về Nam ):
澹澹長江水,     Đạm đạm Trường giang thủy,
                
悠悠遠客情。     Du du viễn khách tình.
                
落花相與恨,     Lạc hoa tương dữ hận,
               
到地一無聲。     Đáo địa nhất vô thinh !
Nghĩa bài thơ :
       Nước sông Trường Giang lửng lờ nhạt nhẻo trôi một cách vô vị ( đạm đạm ), cũng như cái tình của kẻ xa quê hương dài dằng dặc và dai dẵng kia ( du du ). Cánh hoa rụng cũng tựa như cái hận sầu của kẻ xa quê, âm thầm rơi trên mặt đất mà chẳng buồn gây nên một tiếng động nào cả !
        Ví hoa rụng như lòng kẻ lưu vong, oán hận mà âm thầm không bày tỏ cùng ai được !
DIỄN NÔM :
                 Lơ lửng nước Trường Giang,
                 Mênh mang tình viễn khách.
                 Hoa rụng hận chứa chan,
                 Im lìm không oán trách !
  Lục bát :
                 Lửng lơ giòng nước Trường Giang,
                 Như tình viễn khách mênh mang bời bời.
                 Hận cùng như cánh hoa rơi,
                 Âm thầm trên mặt đất rồi lặng yên !
Bản viết tay của ĐCĐ năm 1972
Bề mặt địa cầu còn có những cơn động đất làm sập đổ lâu đài, chôn vùi thành phố, tạo nên những đợt sóng thần cuốn trôi nhà cửa, hoa màu súc vật... mà ta gọi là những cơn Địa Chấn 地震, tác hại lắm khi còn hơn cả chiến tranh. Trong chiến tranh thì ta có các từ về Địa như :
  - Địa Lôi
地雷: Ta quen gọi là mìm, chôn dưới đất.
  - Địa Đạo
地道 hay Địa Huyệt 地穴 là những con đường hay hang hầm được đào ở dưới đất nhằm phục vụ cho chiến tranh du kích.
  - Địa Cần
地勤 : là những chuyên viên kỹ thuật của Không Quân phục vụ ở sân bay dưới đất.
  - Chiến Địa
戰地: là Nơi mà hai bên dàn quân để đánh nhau, như trong Chinh Phụ Ngâm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm :
Xưa nay chiến địa dường bao.
                Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu.
Chiến Địa còn gọi là Chiến Trường 戰場 hay Chiến Tuyến 戰線. Nhắc đến từ chiến tuyến lại làm ta nhớ đến lời hát của bài hát "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông :
           ... Dù nơi chiến tuyến ... mịt mờ mưa bay, Lòng anh vẫn nhớ ... tình người hôm nay...

Nói đến chữ Địa, ta cũng không thể không nhắc đến Địa Lý 地理, Địa Lý là cái Lý của Đất, là môn học chuyên nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân cư và các hiện tượng trên mặt Đất. Từ xa xưa đã có môn học nầy rồi, nên ta hay nghe các cụ khen những tướng cầm quân tài giỏi như Khổng Minh Gia Cát Lượng là " Trên thông Thiên Văn, dưới thông Địa Lý ", biết lúc nào thì trời có mưa gió sương mù, biết nơi nào có địa thế núi non hiễm trở mà điều binh khiển tướng...
Địa Lý còn là những địa hình phong thủy có liên quan mật thiết đến đời sống con người mà các thầy Địa Lý phong thủy đã bày vẽ thêm để hù dọa và ăn tiền của những người cả tin nhẹ dạ. Ví vụ như nói " Nhà ở phải Bối Sơn Diện Thủy 背山面水 ". Có nghĩa là : Nhà ở phải cất xây mặt về hướng có nước và phía sau nhà phải dựa vào núi cho vững chãi. Điều nầy rất hợp với thực tế của cuộc sống mà không cần phải có thầy Địa Lý nói ta cũng thấy được : Nhà cất xây mặt về hướng sông nước sẽ dễ dàng cho việc lấy nước uống, chài lưới và tiện lợi cho việc giao thông bằng đường thủy... Sau nhà có núi sẽ dễ dàng cho việc tìm củi, hái rau trái, săn chim muông, thú rừng... Nên dân gian mới có câu nói mĩa mai rằng :
                            Hòn đất mà biết nói năng,
                     Thì thầy Địa Lý hàm răng chẳng còn !
Địa Lý thế giới                 Địa Trung Hải
Học Địa Lý thế giới còn để mở rộng thêm kiến thức, biết thêm nhiều Địa Phương 地方 và Địa Danh 地名 của những nước khác, đồng thời cũng biết được thêm nhiều phong tục tập quán của tất cả các dân tộc trên thế giới nầy. Học Địa Lý để biết được rằng trong một phần ba đất liền nhỏ bé của Địa Cầu còn có một cái biển mà mấy năm nay đã nhấn chìm và chôn xác biết bao người Libya, Syria, Irak, châu Phi ... tìm cách vượt biên sang Châu Âu để tìm đất sống mới. Đó chính là Địa Trung Hải 地中海, phần biển cả ở giữa châu Á châu Phi và châu Âu.
Học Địa Lý để còn biết được cái Địa Vị 地位, cái chỗ đứng của nước ta trong Đông Nam Á và trên trường quốc tế quan trọng đến cở nào, tác động đến những nước chung quanh ra sao, để còn biết tự hào mà đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình để xây dựng và bảo vệ đất nước. Còn...
Địa Vị 地位 là cái Vị trí địa lý được đặt để bởi thiên nhiên cho một nơi, một địa phương hay một nước. Dùng rộng ra Địa Vị còn chỉ vị trí, chức vụ, quyền hạn của một người nào đó trong công ty, trong xã hội... Nhưng ở đời hễ " Càng cao danh vọng thì càng dày gian nan ". Biết thế nhưng mọi người đều muốn với cao hơn để có một địa vị xã hội mà mình hằng mong ước, cho dù " gian nan" cũng mặc
Địa là đất, đất linh thiêng sẽ sản sinh ra người tài giỏi, như đất Hoa Lư sản sinh ra Đinh Tiên Hoàng Đinh Bộ Lĩnh , đất Lam Sơn sản sinh ra Bình Định Vương Lê Lợi, đất Bình Định sản sinh ra vua Quang Trung Nguyễn Huệ... Nên ta có thành ngữ Địa Linh Nhân Kiệt 地靈人傑 : Cuộc đất linh thiêng sẽ tạo nên những anh hùng hào kiệt. Thành ngữ này có xuất xứ từ bài " Đằng Vương Các tự 滕王閣序 " của Vương Bột 王勃, một trong Tứ kiệt đời sơ Đường :
Vương Bột 王勃 (650-676), tự là Tử An 子安, người đất Giáng Châu,  Long Môn (tỉnh Sơn Tây ngày nay) cha là Vương Phúc Cơ làm huyện lệnh Châu Hoan. Giao Chỉ. Lên sáu tuổi đã nổi tiếng thần đồng, thuộc làu kinh sử. 14 tuổi đoạt khôi nguyên kỳ thi đối sách của triều đình. Năm 16 tuổi trên đường đi thăm cha, hay tin Đô Đốc Diêm Bá Dư trấn nhậm Hồng Châu trùng tu Đằng Vương Các mở cuộc thi thơ văn và khoản đãi tân khách bốn phương. Chủ ý muốn khoe tài con rễ là Ngô Tử Chương, nên đã cho Chương trau chuốt sẵn một bài phú thật hay để ngày hôm đó viết lại. Bột hay tin muộn, thời may có cụ già mách cho Bột rẻ thuyền vào Chương Giang sẽ có gió giúp đưa đến Đằng Vương Các. Bột nghe theo lời, đến đêm quả có gió lớn nổi lên chỉ trong một đêm mà vượt qua 800 dặm đường ( có thể là nhờ gió của đêm Trùng Cửu mùng 9 tháng 9 ). Kịp lúc Đằng Vương Các vừa phát giấy bút chiêu đãi khách làng văn. Thấy Bột chỉ là một thằng bé con, Đô Đốc Diêm Bá Dư không muốn cấp giấy bút, nhưng Bột kiên quyết muốn làm văn. Diêm bèn cho người đứng phía sau lưng Bột, hễ Bột viết được câu nào thì chép lấy dâng đến cho Diêm xem, hễ thấy không xong là tống cổ ra khỏi buổi tiệc ngay. Khi Bột mở đầu bài văn bằng câu : Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ 南昌故郡,洪都新府 ( Xưa là quận Nam Xương, nay là phủ Hồng Đô ), thì Diêm cười và bảo : Cũng là sáo ngữ của các thầy Đồ Nho mà thôi. Đến câu : Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hành Lư 星分翼軫,地接衡廬 ( chỉ địa thế của Đằng Vương Các : Phân chia giữa sao Dực và sao Chẩn, còn đất thì nối tiếp giữa Hành Sơn và Lư Sơn ) thì Diêm lặng thinh. Lại đến câu : Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu đẩu chi Khư. Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp 物華天寶,龍光射牛斗之墟;人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻 ( Của đẹp báu trời, ánh long quang chiếu sao Ngưu sao Đẩu; Đất linh người giỏi, cao nhân Từ Trĩ hạ giường Trần Phồn ) thì Diêm lại tỏ ra vô cùng kinh ngạc. Kịp đến câu : Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thủy cộng trường thiên nhất sắc 落霞與孤鶩齊飛,秋水共長天一色 ( Ráng chiều cò trắng cùng bay, Long lanh thu thủy nước mây một màu ) thì ông không còn dằn được cảm xúc, vỗ bàn đứng dậy khen là tuyệt cú ! Rồi giấu nhẹm luôn bài phú làm sẵn của con rể không dám trình làng. Vương Bột nổi tiếng luôn từ đấy và bài Tự của Vương Bột cũng được lưu truyền thiên cổ với các câu trở thành Thành Ngữ như :
* Địa Linh Nhân Kiệt 地靈人傑 : Cuộc đất linh thiêng sẽ tạo nên những anh hùng hào kiệt.
* Lão Đương Ích Tráng 老當益壯 :  Tuổi Già mà vẫn còn mạnh khỏe.
     * Cùng Thả Ích Kiên
窮且益堅 : Nhà nghèo mà biết kiên trì phấn đấu.
     * Thiên Cao Địa Quýnh
天高地迥 : Trời cao đất rộng.
     * Hứng Tận Bi Lai
興盡悲來 : Hết vui tới buồn.
     * Quan San Nan Việt
關山難越 : Núi non khó vượt.
     * Bình Thủy Tương Phùng
萍水相逢 : Bèo nước gặp nhau .....
    Vì tích của Vương Bột, nên ta lại có câu :
             Thời lai phong tống Đằng Vương Các   
時來風送滕王閣
Có nghĩa :
        Khi thời đã đến rồi thì sẽ có gió đưa đến Đằng Vương Các ngay. Trong Truyện Kiều để tả tình duyên thuận lợi của Hoạn Thư với Thúc Sinh, cụ Nguyễn Du cũng mượn tích nầy :
                   Duyên Đằng thuận nẽo gió đưa,
              Cùng chàng kết tóc se tơ những ngày.
... và như trong Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái, bài thứ 8 tả lại mối tình giữa Công chúa Tiên Dung và Chữ Đồng Tử cũng có câu :
                   Tiên-dung gặp buổi đi chơi,
            Gió đưa Đằng-Các, buồm xuôi Nhị-Hà,
Hay như trong Bích Câu Kỳ Ngộ, tả lại mối tình tiên tục giữa Tú Uyên và Giáng Kiều cũng có câu :
                   Gác Đằng Vương mấy dặm khơi,
                 Có duyên đành đã gió trời thổi đưa.
Trên trời thì có Thiên Đàng, tương tự dưới đất cũng có Địa Đàng. Nhưng Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh là câu chuyện thường được sử dụng để giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai phạm của con người. Theo quan niệm Á Đông thì đối chiếu với Thiên Đàng 天堂 nơi dành cho những người tốt, là Địa Ngục 地獄, nơi mà những người xấu xa tội lỗi phải bị đày đọa trừng trị. Phật Giáo thì gọi là Địa Ngục A Tỳ 地獄阿鼻, Tiếng Phạn là Avīci Naraka. A Tỳ là Không gián đoạn, nên A Tỳ Địa Ngục là nơi những người ác phải chịu khổ nhục liên tục không gián đoạn. Theo Đạo Giáo thì 18 Tầng Địa Ngục do Thập Điện Diêm Vương cai quản, và A Tỳ Địa Ngục nằm ở tầng thứ 18 nầy, dùng để chứa những người làm ác nhất thiên hạ !
Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩 là vị Bồ tát giàu lòng nhân ái, được biết đến bởi lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong lục đạo luân hồi vào thời kỳ sau khi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập Niết-bàn cho đến khi Bồ-tát Di Lặc hạ sanh, và nguyện không chứng Phật quả nếu địa ngục chưa trống rỗng. Ngài qủa là vị Bồ-tát của chúng sinh dưới địa ngục. Hình tượng trên các bàn thờ Phật của Ngài trong các đám tang, đội mũ thất phật và mặc cà-sa màu đỏ, có tạo dáng giống như là Đường Tăng trong Tây Du Ký vậy.
Địa Tạng Vương Bồ-tát 地臟王菩薩
Con người sống giữa trời đất, hợp với trời đất thành TAM TÀI 三才 : THIÊN ĐỊA NHÂN 天地人, nên hễ có bất cứ sự cố vui buồn gì xảy ra là cứ lôi cả trời đất vào trong cuộc sống của con người, vì thế mà ta có rất nhiều thành ngữ, khẩu ngữ liên quan đến Trời Đất như :
    1. Đĩnh Thiên Lập Địa
頂天立地 : Ta nói là Đội trời đạp đất.
    2. Kinh Thiên Động Địa
驚天動地 : Ta nói là Động trời động đất.
    3. Hôn Thiên Ám Địa
昏天黯地 : Ta nói là Tối trời tối đất.
    4. Phiên Thiên Phúc Địa
翻天覆地 : Ta nói là Nghiêng trời lở đất.
    5. Mai Thiên Oán Địa
埋天怨地 : Ta nói là Than trời trách đất.
    6. Đàm Thiên Thuyết Địa
談天說地 : Ta nói là Nói trời nói đất.
Nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.
    7. Hoa Thiên Tửu Địa
花天酒地 : Hoa trời rượu đất, ý nói là :
Ăn chơi đàn điếm mút mùa. Ăn chơi lu bù trời đất.
    8. Hồ Thiên Hồ Địa
胡天胡地 : Quậy trời quậy đất, ý nói là :
Quậy cho tới bến. Quậy đến nỗi không còn biết trời đất gì cả !
    9. Hoan Thiên Hỉ Địa
歡天喜地 : Mừng trời vui đất, ý nói là :
Vui mừng qúa đỗi. Vui qúa trời qúa đất !
  10. Tạ Thiên Tạ Địa
謝天謝地 : Ta nói là Tạ trời tạ đất, là :
Cám ơn trời cám ơn đất, là Cám ơn Trời Đất !
Mười thành ngữ trên, lúc còn đi học, chúng tôi gọi cho vui là " Thập Đại Thiên Địa 十大天地 ". Mười cái TRỜI ĐẤT lớn nhất mà ta thường thấy trong cuộc sống hàng ngày
Từ Địa cuối cùng của bài viết nầy là từ Nghĩa Địa 義地 : Vốn là nơi công cộng để chôn cất người nghèo; sau nầy là những nơi của tư nhân mua để cho người trong dòng họ chôn cất hay của đoàn thể, đồng hương mua để an táng người qúa cố. Ở Việt Nam ta thì thường là của người Quảng Đông hay Triều Châu lập nên để chôn cất đồng hương. Nghĩa Địa 義地 âm Quảng Đông là " Dì tì "; âm Triều Châu là " Nghì tỳ ", nên người Việt ta đọc trại thành " Nhị Tì ", và vì vậy mà ta có kiểu nói để chỉ cái chết là " Hui Nhị Tì nhập thổ ", hay đơn giản hơn là : " Nó đã Hui Nhị Tì rồi !"
Từ Nhị Tì lại làm cho ta nhớ đến bài hát " Nủa Đêm Ngoài Phố " của Trúc Phương là :
          ... Buồn vào hồn không tên. Thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người. Mà yêu thương trót trao nhau trọn đời....
đã được các danh hài Tùng Lâm, Phi Thoàng sửa lại thành :
          ... Buồn vào hồn Ma-ri, tôi nhớ cái đêm nàng đi dưới ánh đèn bên Nhị Tì, nàng bước tới... trao tôi...khúc bánh mì, và đưa luôn cho con gà rô-ti ...
Xin được kết thúc bài viết nầy, không phải với " Thâp Đại Thiên Địa ", mà với... khúc bánh mì , và... con gà rô-ti, nhưng không có Nhị Tì. Ở Mỹ nầy chỉ có Funeral home ( nhà Tang lễ ) và nhà Hỏa táng mà thôi ( Đất chôn người chết mắc quá không kể !). Hỏa Táng để chừa đất đai lại cho con cháu đời sau canh tác  như ông bà ta đã dạy :
Đản tồn phương thốn thổ,     但存方寸土,
Lưu dữ tử tôn canh.              留與子孫耕。
Đỗ Chiêu Đức