THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHU VƯƠNG MIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CHU VƯƠNG MIỆN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 6, 2016

TÌNH MIỀNG


TÌNH MIỀNG
Tình mình đôi nẻo sông sâu
Thương nhau từ thủa qua cầu đắng cay
Mai kia em bỏ chồn này
Lưng đồi hoa nở vàng tay ai về ?
“ thơ Phan Thị Ngôn Ngữ “

Dòng đời đôi nẻo mây che
Dòng theo ra bể có về được đâu ?
Nhìn lên trời đất 1 mầu
May tan rồi tụ theo nhau trốn rồi
Sông chia từng nhánh chân đồi
Tình chia từng nhánh mình ngồi tiếc thương
Từ khi đôi nẻo đôi đường
Đắng cay cũng chuyện bụi đường mưa mau
Thương nhau từ thủa qua cầu
Mất nhau đứng mãi giang đầu chờ mong
Mơi kia em bỏ theo chồng
Lưng dèo hoa vẫn nở vàng như xưa
Gió lay qua mấy tàu dừa
Nhìn theo toàn những hạt mưa cuối cùng

Chu Vương Miện

PHẠM THIÊN THƯ


PHẠM THIÊN THƯ
100 năm trong cõi người Ngô
Chữ Tài chữ Xiểu vẫn vồ lấy nhau ?
Chè tươi rồi lạị chè tàu
Bánh tây chả lụa hoa đào nước sông
Đi tu nước lớn nước ròng
Xưống đờì làm chuột đánh vòng câu cơm
Nơi chùa tụng được Kim Cương
Thì ra cũng lại tài nhân kiếp này
Qua cầu chả thoát 1 ai ?
Chân không chân dép chân giầy không chân
Truyện Kiều cổ điển tân thanh
ở không soạn nốt Vô Thanh Đoạn Trường
Không đèn ngói cũng như tranh
Bình minh gà gáy giáo đường dộng chuông
Xưa sau vẫn 1 cơn buồn
Nguyễn Du ơi ? ngã 3 đường chốn đây ?
Chu Vương Miện

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

TÌNH ĐỒNG MÔN & KHOAI


TÌNH ĐỒNG MÔN & KHOAI
Ta rời trường xưa năm 1960
Muội mãi năm 73 mới vào lớp 6
"Đệ thất"
Giữa năm 1975 thì cái gì cũng mất
Anh em huynh đệ mỗi nẻo mỗi đàng
Kẻ phiêu dạt Huế Đà Nẵng Phan Thiết
Phan Rang
Kẻ Vũng Tàu Bà Rịa Buôn Ma Thuột
Muội cũng theo chồng lập nghiệp phương xa
Nghe tin nhau mà xa quá là xa
Cũng chỉ biết thở dài ngao ngán
Đầu năm muội nhà tan bại sản
Ngã lề đường gẫy 1 tay 1 chân
Rồi cuối năm tay còn lại gẫy luôn
Chưa quá 40  toàn thân tàn phế
Tình đồng môn khoai người cùng xứ sở
Kẻ Biên Hòa Đồng Nai kẻ tại chỗ xa xăm
Để đêm đêm nghe sóng vỗ biển Đông
Lại ngỡ là sóng làng chài miền Mỵ Thủy
Thôi chúng ta chả sanh lầm thế kỷ
Thế kỷ nào cũng loạn lạc bi thương
Thủa xa xưa thì Trịnh Nguyễn đôi đường
Nam Bắc triều muôn đời thù địch
Rồi Tây Sơn Gia Long kế thừa đánh tiếp
Nhìn núi sông xương máu thở than ?
Nỗi tang thương chả khác nước non Chàm
Kẻ mé biển kẻ chân rừng kiếm sống
Gia đình huynh miền thượng du
khố giây khố bện
hết giặc Tàu Ô đến giặc Cờ Đen
cuộc sống bấp bênh dở củi dở đèn
làm thảo dân đời nào cũng khổ
cơm thì không sắn khoai thưa rổ
cứ ngày ngày luộc chín bóc ăn
tình đồng môn khoai như ánh trăng rằm
nhìn chút chút cho lòng đỡ khổ
lỡ mơi sau muội có về Quảng Trị
nhớ ghé thăm mộ huynh ở La Vang
nơi thời xưa dân gian gọi lá vằng
xa ngái ngái tuốt trên La Vang Thượng
biết tin nhau dù rằng quá muộn
dù não lòng có còn hơn không ?
trường cũ ngày xưa chừ đã mất tên
thành phố cổ cũng chuyển thành bình địa
ôi một thời Châu ô Cận lục bây chừ hoang phế
chả còn gì sót lại ở trái tim
kiếp này đây sống y những loài chim
bay lung tung vô tình vô xứ
nếu còn mai sau trở về bến Cộ
sông Ô Lâu cây đa cũ còn không ?
có về Khe Sanh Cồn Tiên Ba Lòng
có là cá kẹt trong hom vùng vẫy ?
tình đồng môn khoai kể ra làm chi ?
mà buồn quá vậy ?
Chu Vương Miện

BÙI GIÁNG XƠI PHỞ


BÙI GIÁNG XƠI PHỞ

Thi sĩ ngồi xuống ghế
Tô phở cùng ly cà phê sữa
Được bưng ra đặt ngay trước mặt
Thi sĩ lấy mưổng
Khuấy ly cà phê
Lây tương đen tương đỏ
Và vắt chanh vào tô phở
Xong

Thi sĩ đổ ly cà phê vào tô phở
Và móc trong túi ra 1 điếu thuốc
Đàlạt
Bóc giấy vứt đi
Rồi bỏ tiếp vào tô phở
Lấy đũa và muổng
Trộn lên rời bắt đầu ăn

Thơ Chu Vương Miện
Thơ Chu Vương Miện


2 BÊN
1 bên lương tâm
1 bên lương thực
Bên núi cao
Bên bờ vực
Kẹt cứng ở giữa
Dở sống dở chết

Thiên nan vạn nan
Chả làm được đéo gì ?
Suy nghĩ làm cái chi ?
Cho mệt

Cái thân con ruồi
Cái thân con rệp
Chả  bao giờ vui
Ngang ngửa vịt đẹt

Ơi phận tép riu
Sáng cũng như chiều
Trong ao hồ chật hẹp
Múa may còn bấy nhiêu ?

Thân phận đồ ếch nhái
Trong đầm trong chuôm
Động 1 cái
Nhẩy như bay
Cái ùm

Mũ ni che tai
Mặc thiên hạ sự
Có 2 mắt như mù
Ơi đời phù du

Chu Vương Miện

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

MỘT TRĂM NĂM!


100 NĂM

100 năm trong cõi người toa
Chữ tài chữ cán thiếu đà đá nhau
100 năm trong cõi 3 Tàu
Toàn là xì thẩu xì dầu nước tương
100 năm rong cõi Mán Mường
Áo chàm khăn xếp nhà sàn cơm lam
Thương cho tháp cổ tháp Chàm
Phơi sương cùng nắng vừa Vàng vừa Thau
Trải qua 1 cuộc đẩu đâu
Những điều trông thấy gật đầu mà thôi
Loanh quanh chả đứng thì ngồi
Chuồng heo đực cái nằm ngồi ngổn ngang
Heo con heo nọc từng hàng
100 năm thôi đủ phũ phàng đời nhau ?

Chu Vương Miện

TÌNH NGƯỜI QUẢNG TRỊ !


TÌNH NGƯỜI QUẢNG TRỊ
“1 đi nhớ bến thương bờ
2 về sóng vỗ dật dờ trường giang
Thơ Định Giang Hoa 10 Phương 1960”

Hiện chừ Huynh ở vào tuổi 7 bó gập
Sống cũng chỉ chờ ngày chôn xuống đất
Muội cũng ở vào chặng bó dư
Bỏ dứt luôn cái nghề ca hát
[ Đeo đẳng mãi mần chi cho nó mệt ]
Chúng ta thời xưa ở vào 2 đầu đất nước
Năm 54 Huynh 14 tuồi di cư vào miền Trung
Lúc đó { bấy giờ  Muội mới làm khai sinh
Cho tới giờ này Huynh vẫn là Huynh
Muội hiện đại vẫn còn là Muội
Trên 60 năm chúng ta chả gặp nhau
Đường đời lắm ngả toàn xơi cơm chấm muối
Huynh ở Mỹ Quốc phía tây
Muội ở Giao Chỉ phía Đông
2 xứ 2 nơi cách 1 biển trùng trùng
Tiếng quan thọại gọi là Pacific
Huynh không về vì người quá già quá mệt
Hết bệnh này tiếp đến bệnh kia ?
Muội không qua vì gió thốc tứ bề
Rặt là gió heo may cùng gió chướng
Nơi quê cũ ngày xưa ôi là đất nạn
Cổ thành Quảng Trị nát như tương
Trường cũ người xưa mỗi nẻo mỗi đàng
Đường lên thiên thai đường về âm phủ
Đại lộ kinh hoàng đạn rơi pháo nổ
Chả còn cái gì ? nguyên trú quán bi thương “
Thôi chiến tranh cuộc chiến vô thường
Cong cũng thá và ngay cũng chết ?
Lớp học ngày xưa nửa phần chết thiệt
Lớp bỏ quê nhà cầu thực lang thang
Thành phố Châu Ô xưa gạch ngói hoang tàn
Bao con phố bây chừ toàn đá vụn
Có những con đường có đi có đến
Đâu có giống như sông Thạch Hãn
[ Chảy mãi về Triệu Phong  ]
Ôi Sải thân yêu bờ đê tiếp tre làng
Xa thăm thẳm xuôi dòng về cửa Việt
Tình văn nghệ văn gừng ôi chao
Sao mà da da diết diết
Đọc thơ Định Giang 55 năm qua
Bây giờ mới thấm mệt
“Về không về sang không sang
Cầm bằng lỡ chuyến đò ngang cầm bằng”
Ôi một đời người biết mấy cớ nhân
Kẻ cho leo cây kẻ thì lừa đảo
Chuyện thường ngày ở huyện
Vẫn là thớ cơm tô cháo
Vẫn tô mì Quảng tô phở trà xanh
Chúng mình bây chừ tạm gọi em anh
Chuyện Văn Nghệ Văn Gừng Văn Nghẽo
Ôi thì kiếp sau gắng mà đi qua Sạn Đạo
Vào Tứ Xuyên Ba Thục gặp nhau ?
Kiếp này đây dù đi khắp địa cầu
Huynh 1 nơi muội thì 1 nẻo
Ôi cái tình văn chương bạc bẽo
Biết ra răng mà biết nói sao chừ ?
Huynh ậm ờ giữa 2 nẻo tê mô


Chu Vương Miện

HUYNH MUỘI

1
Tình cảnh của Muội
6 bó dư
Mẹ góa con côi
Lây lất 40 năm
Gia đình cả bên nội và bên ngoại
4 năm 7 người chết vì ung thư
Đủ thứ ?

2
Tình cảnh của Huynh
7 bó gập
Sống lừ đừ
Và chết từ từ
Vừa giải phẫu 2 mắt
Thêm đầu gối
Giờ đi cà nhắc
Thêm bệnh gout
+thêm đái đường
Nói chuyện bình thường
Cũng quá buồn ?

Chu Vương Miện

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

ĐÁM MA !



ĐÁM MA

Quan chức thác
Có người đi đưa ma
Có điếu văn
Có người khóc
Có người chửi cha 
Có người thương tiếc

Thi sĩ chết 
Không có ai khóc hết 
Tòan im lặng
Đôi khi cười 
Chết lãng nhách
Lãng xẹt

Văn sĩ chết
Đáng đời

Người già chết
Rắn già rắn lột
Sống mãi mãi
Vẫn  đồng một cốt

Ông Bành Tổ sống ngàn năm
Con cháu ông Bành Tổ chỉ nằm
Hút thuốc lào
Ăn cháo

Ôi thơ văn bố lếu bố láo
Cũng vì mấy cân gạo
Mà các nhà
Tha hồ nói láo

Tự do không biết tự do với ai 
Buôn bán vũ khí và mậu dịch với ai?
Tự do một mình
Hay với các nước bạn
Các nước láng giềng chung quanh
Tự do là thế nào?
Quan thầy nào 
Cho phép mình tự do?

ChuVươngMiện


Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Trận Xích Bích - Chu Vương Miện

                        
                                
Trận Xích Bích
Tam Quốc Chí ngoại truyện
Thu xếp xong đâu đó từ lâu rồi, chỉ còn đợi quân sư điều dụng, Khổng Minh liền cùng Huyền Đức, Lưu Kỳ lên ngồi trên trướng.
Thứ nhất gọi Triệu Vân tới nhận lệnh:
-Tử Long hãy mang 3000 quân mã qua sông thẳng tới con đường nhỏ Ô Lâm, tìm chỗ lau cao rừng rậm mà mai phục. Cuối canh tư đêm nay Tào Tháo ắt thua chạy qua đường ấy, đợi quân nó qua được một phần, thì đốt lửa lên mà đánh ra. Tuy không giết hết được chúng, cũng giết được một nửa.
Triệu Vân hỏi lại:
- Ô Lâm có 2 con đường, 1 đường thông sang Nam Quận, một đường về Tương Dương Kinh Châu, không biết chúng theo đường nào?
Khổng Minh nói:
-Nam Quận bị uy hiếp mạnh, ắt lúc đầu Tháo không dám về đấy, mà toan chạy về Tương Dương để thu thập bại quân rút về Hứa Xương.
Triệu Vân vâng lệnh kéo đi.
Khổng Minh gọi đến Trương Phi:
- Dục Đức hãy lĩnh 3000 quân mã qua sông chặn đường Di Lăng, cứ vào hẻm núi Hồ Lô mai phục. Tào Thao không dám chạy đường phía Bắc Di Lăng, mà chạy đường nam Di Lăng. Ngày mai khi dứt cơn mưa, ắt quân nó đến núi đào lò thổi cơm; hễ thấy khói bốc lên, thì đổ ra chân núi đốt lửa mà đánh. Tuy không bắt được Tào Tháo, nhưng cái công Dục Đức cũng không phải nhỏ.
Trương Phi nhận lệnh kéo đi.
Bấy giờ Quan Vân Trường đứng cạnh mà Khổng Minh tuyệt nhiên không nói động đến! Vân Trường chịu không nổi nữa nói lớn lên rẳng:
-Vũ này theo huynh trưởng đã bao năm, đánh bao nhiêu trận, chưa trận nào phải đi sau. Nay gặp đám giặc to thế này quân sư lại không dùng đến, thế là ý làm sao?
Khổng Minh mỉm cười nói:
- Vân Trường đừng giận. Chính ta muốn phiền túc hạ đón chặn một cửa ải vô cùng hiểm yếu, hiềm vì một điều nên chẳng dám nhờ đó thôi.
Vân Trường hỏi:
- Có điều gì ma ngại? Xin quân sư cho biết?
Khổng Minh nói:
- Số là ngày trước Tào Tháo đãi tướng quân rất hậu, hẳn tướng quân phải có lòng báo đáp. Ngày nay Tháo bại trận thế nào cũng chạy qua đương Hoa Dung. Nếu đựợc đi chặn lối ấy ắt tướng quân tha cho nó chạy, bởi thế  nên chẳng dám nhờ đi. [Tam Quốc Chí diễn nghĩa trang 891-893 bản dịch ra Việt ngữ của dịch giả Tử Vi Lang].
Ba vị tướng Triệu Vân, Trương Phi cùng Quan vân Trường nhận lệnh. Tuy nhiên khẩu lệnh [tức lệnh Mồm] không quan trọng bằng ba túi gấm cẩm nang mang theo, lúc hành sự cứ theo lời căn dặnn trong cẩm nang mà thi hành.

Điều bát phân phó công việc cho các cận tướng xong đâu đó, Khổng Minh nói riêng với Lưu Bang và Lưu Kỳ:
- Chiến thắng quân sự là chuyện nhỏ, mà giữ được đất mới là chuyện lớn. Theo tình hình bây giờ, quân đội của Tào Tháo tòan là quân ô hợp, thu gom tàn binh của Viên Thiệu Viên Thuật, và Lưu Cảnh Thăng, không đáng quan tâm, nhưng ba vạn quân của Đông Ngô rất là thiện chiến, mà quân Ba Thục của chúng ta chỉ còn 1 vạn, cuộc chiến này không tính tóan cho khéo thì chỉ công cốc (cốc mò cò xơi mà thôi!) ]không khéo tay không cả! Lực lượng của chúng ta chia làm  ba bốn phần chẳng qua cũng chỉ để bảo vệ Tào Tháo chạy cho thoát về Hứa Xương [Hứa Đô] để vẫn còn ba chân Đỉnh Tam Quốc, nếu ngay bây giờ mà dẹp mất lực lượng của Tào Tháo, mà chỉ còn 2 chân đỉnh thì không những Tào Tháo dẹp tiệm mà chúng ta cũng đi đứt luôn.
Thời Tam Quốc kéo dài 52 năm, cuối thế kỷ thứ ba đầu thế kỷ thứ tư, tính tới bây giờ cũng gần 1800 năm [tức 18 thế kỷ]. Mọi việc đã đổi thay, sông núi cũng đổi thay, sông Xích Bích thì vẫn còn đó, nhưng đánh nhau ở chỗ nào thì trước sau có tới sáu giả thuyết trái ngược lẫn nhau, không ai đồng ý với nhau về trận đánh lịch sử này. Nhân ở không bàn góp cho vui.
Chúng tôi mang bản đồ Trung Quốc đặt ra trước mặt, rồi dựa theo đó mà nhận xét cùng phân tích. Bản đồ Trung Quốc có hình dạng Con Gà [nuốt dây thun] cái đầu là xứ Mãn Châu Hắc Long Giang, còn cái đuôi là vùng tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. Lấy giòng sông Hoàng Hà làm chuẩn, thì miền Hoa Bắc tỉnh đầu tiên là Bắc Kinh vốn là Yên Kinh cũ đất của nước Yên tiếp giáp với Mãn Châu qua ải Sơn Hải Quan, tỉnh bên cạnh về bên trái là Sơn Tây đất cũ cuả nước Triệu, có ải Nhạn Môn Quan biên giới với Mông Cổ. Qua sông Hoàng Hà về phía Nam là hai tỉnh đối xứng, dưới tỉnh Hà Bắc là tỉnh Sơn Đông nguyên là đât Tề cũ [phía đuôi sát với Giang Tô là đất Lỗ] tỉnh Sơn Đông và tỉnh Sơn Tây đối xứng với nhau qua sông Hoàng Hà [có nghĩa là phía Đông và phia Tây giải núi Thái hành Sơn, dưới tỉnh Sơn Tây là tỉnh Hà Nam vốn là kinh đô cũ [Lạc Dương là Đông Đô, đất cũ của nước Hứa nay Tào Tháo dời đô về đó mà đặt tên là Hứa Đô Hứa Xương], bên trái tỉnh Hà Nam về phía Tây là tỉnh Thiểm tây, mà về phía Đông là  ba tỉnh Sơn Đông, Giang Tô và An Huy, còn xưống phía Nam là tỉnh Hồ Bắc, hai tỉnh này phía Nam sát nách vào nhau cùng một biên giới khá dài, bây giờ nói tiếp tỉnh Hồ Nam và tỉnh Hồ Bắc, hai tỉnh này tiếp kề cận nhau có một chiều dài ngang với nhau, được sông Trường Giang [tức Dương Tử va Ngũ Đại Hồ] ở giữa, và sông Xích Bích là một chi lưu của sông Dương Tử, ngay từ chỗ Tam Giang khẩu chẩy về phía tỉnh Hồ Nam, chia tỉnh Hồ Nam làm  phần, về phía đông Hồ Nam là tỉnh Giang Tây,  huyện cận kề sông Xích Bích là Huê Dung, thị trấn Huê Dung, nay là huyện Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam. Còn về phá tây tỉnh Hồ Nam [tức là bên kia sông Xích Bích] đi về phía Tây là tỉnh Quý Châu] là Thôn Xích Bích đông bắc huyện Gia Nghi quận Bố Kì, Hứa Đường tỉnh Hồ Nam.
Lực lượng của quân Đông Ngô đóng tại đây, lấy Tam Giang Khẩu là Tổng Hành Dinh. Còn quân Tào Tháo gồm có tám mươi vạn quân, đa số là quân ô hợp của Viên Thiêu Viên Thuật và Lưu Biểu. Theo như trong bản đồ hai tỉnh Hồ nam và Hồ Bắc, thì quân số của Ba Thục tức nhà Thục của Lưu Bị phải chia ra làm bốn phần đều nhau, mà không tể làm như quân sư Khổng Minh sai phái được. Đội quân thứ nhât phải do Quang Vân Trương dẫn 2500 quân qua sông Dương Tử đóng ngay sau lưng quân Tào Tháo, đội quân thứ hai đóng ở Hạ Khẩu do Lưu Bị và Khổng Minh quản lý, đội quân thư ba và thứ tư thì y nhu cũ. Mục đích dàn quân để chiếm trọn một nửa Hồ Bắc tức là Kinh Châu dự tính xẩy ra đúng y như bài bản. Sau khi có gió Đông Nam thì Chu Đô Đốc cho thuyền phóng hỏa đốt cháy các chiến thuyền do các xích sắt móc vào với nhau. Đoàn quân họ nhà Tào  mạnh ai nấy chạy, ngay trên đất Hồ Nam thì được Vân Trường bảo vệ thoát khỏi Huê Dung tiểu lộ, vượt Trường Giang qua bờ phía bắc tỉnh Hồ Bắc đã có lực lượng Khổng Minh Lưu Bị bảo vệ, chay thêm 160 dậm nữa thì tời biên giới của Triệu Vân tức rừng Ô Lâm, chạy thêm thì tói Tương Dương, tướng Trương Phi bảo vệ cú chót, giao Tào Tháo cho quân tiếp ứng bảo vệ Tào chạy thoát về Hứa Xương, còn Trương Phi thì trấn đóng luôn ở Tương Dương, và sau đó thì quân của Lưu Bị tản ra chiếm đóng toàn nửa bộ tỉnh Hồ Bắc, tức là Kinh Châu cũ của Lưu Biểu. Cuộc chiến sông Xích Bích 4 vạn quân Đông Ngô có quyền tung hoành trên mặt nước, đại đô đôc Chu Du tha hồ mà trổ tài thao lược, người chết thuyền cháy, nhưng thành quả thì lại lọt vào tay Lưu Bị ở không mà chiếm trọn nửa tỉnh Hồ Bắc. Đúng là bất chiến tự nhiên thành.

Chu Vương Miện
-Nguồn trích Hương Nguyễn Hoàng