THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ -CHÂU THẠCH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÌNH THƠ -CHÂU THẠCH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2019

BÌNH THƠ


ĐỌC “BỊN RỊN TRẦN GIAN” CỦA LÊ THỊ QUỲNH DUNG VÀ  “PHỤNG HIẾN” CỦA BÙI GIÁNG.
Sẽ có người không đồng ý khi tôi đem thơ Lê Thị Quỳnh Dung và Bùi Giáng để cạnh nhau. Họ sẽ cho rằng sự so sánh nầy thật là khập khiễng. Thật ra tôi chỉ muốn tá khách hai bài thơ vào nhau để được nhìn hai cái đẹp được trọn vẹn từ những góc cạnh của nó. Tôi không hề muốn so sánh mức độ cao thấp, vai vế trên văn đàn, hay nhiều hoặc hay ít của mỗi bài thơ. Cái đó tùy cảm nhận của mỗi cá nhân, người đọc sẽ tự thấy khi thưởng thức nó. Hai bài thơ của hai tác giả ở thời đại khác nhau, ý tưởng thơ họ giống nhau mà phong cách thơ họ khác nhau, cùng bin rịn trần gian và cũng phụng hiến trần gian. Tiếng lòng họ giống nhau nhưng tiếng thơ họ khác nhau, như hai loại đàn riêng biệt cùng hòa âm một cung đàn, vọng vào hồn ta một bản nhạc vàng êm ái.
Đầu tiên ta hãy nghe cả hai nhà thơ thương tiếc và bịn rịn trần gian nầy nếu họ phải lìa đời:
Quỳnh Dung:
Nếu bảo tôi hãy cuốn gói lên đi về thế giới khác
Thì tần ngần tôi còn tiếc trần gian
Lúc ra đi đâu tiếc bạc tiếc vàng
Bởi tôi nghèo và từng tay trắng
Bùi Gíáng
Ngày sẽ hết, tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu. 
Tiếp theo ta hãy nghe hai nhà thơ thổ lộ những điều làm họ lứu luyến trần gian:
Quỳnh Dung:
Tôi chỉ ngại bên kia - thế giới khác
Không ánh trăng, không nước chảy diệu kỳ?
Không đất đá muôn màu lên hoa đẹp
Không câu hát ngọt ngào sâu lắng
Tặng dân gian trên sân khấu cuộc đời
Không cả đắng cay trong lời nhạc
lưu luyến chân người và chua xót lên môi.
Bùi Giáng:
Cây và cối, bầu trời và mặt đất
Ðã nhìn tôi duới sương sớm trăng khuya
Mở buồng phổi đón gió bay bát ngát
Dừng bên sông bên cát bụi chia lìa.
Hoàng hôn xuống bình minh lên nhịp nhịp
Ngàn sao xanh lùi bước trước vừng hồng
Ngày rực rỡ đêm êm đềm kế tiếp
Ðón chào tôi chung cười khóc bao lần.
Tôi đã gởi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong.
Thê rồi cả hai nhà thơ không chỉ lưu luyến cảnh đẹp của trần gian mà lưu luyên cả nhưng thăng trầm mà họ nhận được trong cuộc sống giữa trần gian:
Quỳnh Dung:
Không những điều chưa nói nên lời
Chỉ ánh mắt yêu nhau từng hiểu
Dầu chỉ thoáng chốc thôi
Như món quà nhận biếu
Trần gian đầy món nợ nhân văn
Không những tình bạn buổi lang thang
Tâm tư trao nhau lời chia xẻ
Không những khúc thương à ơi người mẹ trẻ
Tiễn chồng đi không thấy ngày trở về
Ôm con mình lên tận đỉnh sơn khê
Lòng hoá đá và tình yêu hoá đá.
Tôi sống và lớn lên giữa đống tro tàn đổ nát
Tự vượt lên mình tìm số phận vui may
Luôn thất bại tôi tìm trong cô quạnh
Niềm thơ yêu mà bồi đắp tâm hồn
Bùi Giáng:
Sông trắng quá bảo lòng tôi mở cửa
Trăng vàng sao giục cánh mộng tung ngần
Gió thổi dậy lùa mơ vào bốn phía
Ba phương trời chung gục khóc đêm dông.
Những giòng lệ tuông mấy lần khắc khoải
Những nụ cười tròn mấy bận hân hoan
Những ngoảnh mặt im lìm trong ái ngại
Những bắt tay xao động với muôn vàng.
Những người bạn xem tôi như ruột thịt
Những người em dâng hết dạ cho tôi
Những người bạn xem tôi là cà gật
Những người em không vẹn nghĩa mất rồi.
Quỳnh Dung cũng như Bùi Giáng, cả hai đều thổn thức khi phải lìa trần gian. Lúc nầy họ mới bày tỏ hết tình yêu của họ với trần thế, chẳng khác chi người tình tỏ hết lòng mình khi sắp xa rời người yêu:
Quỳnh Dung
Nếu phải ra đi
Lòng rất bồn chồn
Chưa nói hết những điều suy nghĩ
Đôi tay trần còn nhiều mộng mị
Nên chưa thể nào viết trọn ý nhân gian.
Sao nhặt sao thưa nhìn tôi kiểu chập chờn
Tôi cúi xuống âm ỉ buồn câm lặng
Râm ran lắm thôi mình ra ngõ vắng
Nhìn cá vàng thơ thẩn một mình thôi
Dẫu có đơn côi nhưng mình tự tại
Yêu trần gian theo lối của riêng mình.
Trần gian này muôn vẻ kiếp nhân sinh
Mỗi một vẻ đoạ lòng nhau nhiều vẻ
Bùi Gíang
Trần gian hỡi tôi đã về đây sống
Tôi đã tìm đâu ý nghĩa lầm than
Tôi ngẩn mặt ngó ngàn mây cao rộng
Tôi cúi đầu nhìn mặt đất thâm đen
Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ em yêu.
Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh
Em đứng mũi anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Cả  hai nhà thơ đều tự nhủ với lòng mình hãy giữ tình yêu với trần gian mãi mãi dầu trần gian có lắm điều làm mình chua xót: 
Quỳnh Dung:
Xin giữ cho nhau những lời chân thật
Tự đáy lòng lên nhạc lên thơ
Trần gian này còn lắm bụi mờ
Thì ít ra góc riêng mình chiu chắt.
Bùi Gíang:
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi, cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao.
Nhưng em hỡi, trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với người thôi
Ta chết lặng, đành bó tay đầu lắc
Ðài Siêu ôi, xuân sắc rụng mất rồi.
Ðêm ứa lệ căng phồng mi hai mắt
Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô
Mình hoa rã đầm đìa sương theo mốc
Ðỡ làm sao những cánh tiếp nhau rơi.
Cuối cùng cả hai nhà thơ đều có một hy vọng lạc quan với trần gian. Họ chia tay trần gian với “hồn thơ bay nhảy”, để lại  “trang thơ thắm lại với trời hồng”: 
Quỳnh Dung:
Trần gian này còn đấy thu mơ
Dẫu hoà bình đánh đổi bằng cái chết.
Trần gian này còn đấy bụi mờ
Vẫn đẹp lắm, gợi hồn thơ bay nhảy.
Bùi Giáng
Ta gởi lại đây những lời ảo não
Những lời yêu thương phụng hiến cho em
Rồi ta gục đầu trên trang giấy hão.
Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng
Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng.

Bài thơ “Phụng Hiến” của Bùi Giáng thì đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để ca tụng nó rồi. Bài thơ ”Bịn Rịn Trần Gian” của Lê Thị Quỳnh Dung chỉ mới vừa sáng tác một vài ngày gần đây, và có lẽ Châu Thạch là người đầu tiên viết về nó. Ta thấy trong “Phụng Hiến”, Bùi Giáng lưu luyến nhiều vẽ đẹp trần gian nhưng chỉ viết lướt qua những nỗi đau của trần thế. Ngược lại trong “Bịn Rịn Trần Giàn”, Quỳnh Dung lại lưu luyến nhiều những nỗi đau của trần thế mà chỉ viết lướt qua nhừng vẽ đẹp của trần gian. Điều nầy khác với nhiều nhà thơ xưa nay, nhất là khác với các bài thơ thiền, thơ đạo. Đa số các nhà thơ đều chán nản với nỗi đau khổ đế, mơ ước về với một thiên đàng vinh hiển, một niết bàn cực lạc hay một cõi vô vi để thong dong rong chơi ở cõi vĩnh hằng.
Với tôi, “Bịn Rịn Trần Gian” đưa ta đên sự sâu nhiệm một ý nghĩa mới trong cuộc sống, gợi cho ta một tình yêu trần gian mới, khác với những lẽ đạo thường tình cứ cho trần gian đầy xấu xa đau khổ,  cho ta khám phá được chiều sâu của mọi tâm hồn sống trên đất rằng, ai cũng yêu thế gian nầy mặc dầu trên môi cứ ta thán thế gian./.
Châu Thạch 
BỊN RỊN TRẦN GIAN
Nếu bảo tôi hãy cuốn gói lên đi về thế giới khác
Thì tần ngần tôi còn tiếc trần gian
Lúc ra đi đâu tiếc bạc tiếc vàng
Bởi tôi nghèo và từng tay trắng
Tôi chỉ ngại bên kia - thế giới khác
Không ánh trăng, không nước chảy diệu kỳ?
Không đất đá muôn màu lên hoa đẹp
Không câu hát ngọt ngào sâu lắng
Tặng dân gian trên sân khấu cuộc đời
Không cả đắng cay trong lời nhạc
lưu luyến chân người và chua xót lên môi.
Không những điều chưa nói nên lời
Chỉ ánh mắt yêu nhau từng hiểu
Dầu chỉ thoáng chốc thôi
Như món quà nhận biếu
Trần gian đầy món nợ nhân văn
Không những tình bạn buổi lang thang
Tâm tư trao nhau lời chia xẻ
Không những khúc thương à ơi người mẹ trẻ
Tiễn chồng đi không thấy ngày trở về
Ôm con mình lên tận đỉnh sơn khê
Lòng hoá đá và tình yêu hoá đá.
Tôi sống và lớn lên giữa đống tro tàn đổ nát
Tự vượt lên mình tìm số phận vui may
Luôn thất bại tôi tìm trong cô quạnh
Niềm thơ yêu mà bồi đắp tâm hồn
Nếu phải ra đi
Lòng rất bồn chồn
Chưa nói hết những điều suy nghĩ
Đôi tay trần còn nhiều mộng mị
Nên chưa thể nào viết trọn ý nhân gian.
Sao nhặt sao thưa nhìn tôi kiểu chập chờn
Tôi cúi xuống âm ỉ buồn câm lặng
Râm ran lắm thôi mình ra ngõ vắng
Nhìn cá vàng thơ thẩn một mình thôi
Dẫu có đơn côi nhưng mình tự tại
Yêu trần gian theo lối của riêng mình.
Trần gian này muôn vẻ kiếp nhân sinh
Mỗi một vẻ đoạ lòng nhau nhiều vẻ
Xin giữ cho nhau những lời chân thật
Tự đáy lòng lên nhạc lên thơ
Trần gian này còn lắm bụi mờ
Thì ít ra góc riêng mình chiu chắt.
Trần gian này còn đấy thu mơ
Dẫu hoà bình đánh đổi bằng cái chết.
Trần gian này còn đấy bụi mờ
Vẫn đẹp lắm, gợi hồn thơ bay nhảy.
Lê Thi Quỳnh Dung 
PHỤNG HIẾN
Ngày sẽ hết, tôi sẽ không ở lại
Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu
Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi
Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.
Cây và cối, bầu trời và mặt đất
Ðã nhìn tôi duới sương sớm trăng khuya
Mở buồng phổi đón gió bay bát ngát
Dừng bên sông bên cát bụi chia lìa.
Hoàng hôn xuống bình minh lên nhịp nhịp
Ngàn sao xanh lùi bước trước vừng hồng
Ngày rực rỡ đêm êm đềm kế tiếp
Ðón chào tôi chung cười khóc bao lần.
Tôi đã gởi hồn tôi biết mấy bận
Cho mây xa cho tơ liễu ở gần
Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật
Quả tim mình nóng hổi những chờ mong.
Sông trắng quá bảo lòng tôi mở cửa
Trăng vàng sao giục cánh mộng tung ngần
Gió thổi dậy lùa mơ vào bốn phía
Ba phương trời chung gục khóc đêm dông.
Những giòng lệ tuôn mấy lần khắc khoải
Những nụ cười tròn mấy bận hân hoan
Những ngoảnh mặt im lìm trong ái ngại
Những bắt tay xao động với muôn vàng.
Những người bạn xem tôi như ruột thịt
Những người em dâng hết dạ cho tôi
Những người bạn xem tôi là cà gật
Những người em không vẹn nghĩa mất rồi.
Trần gian hỡi tôi đã về đây sống
Tôi đã tìm đâu ý nghĩa lầm than
Tôi ngẩn mặt ngó ngàn mây cao rộng
Tôi cúi đầu nhìn mặt đất thâm đen
Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức
Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm
Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt
Tôi đui mù cho thỏa dạ em yêu.
Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh
Em đứng mũi anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi, cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao.
Nhưng em hỡi, trần gian ôi ta biết
Sẽ rồi ra vĩnh biệt với người thôi
Ta chết lặng, đành bó tay đầu lắc
Ðài Siêu ôi, xuân sắc rụng mất rồi.
Ðêm ứa lệ căng phồng mi hai mắt
Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô
Mình hoa rã đầm đìa sương theo mốc
Ðỡ làm sao những cánh tiếp nhau rơi.
Ta gởi lại đây những lời ảo não
Những lời yêu thương phụng hiến cho em
Rồi ta gục đầu trên trang giấy hão.
Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng
Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không
Còn trang thơ thấm lại với trời hồng.
Bùi Giáng

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

ĐỌC ‘THU TRỞ LẠI”


ĐỌC ‘THU TRỞ LẠI” THƠ NGUYÊN BÌNH

                                   Châu Thạch

THU TRỞ LẠI

Em ơi em... kìa mùa thu trở lại
Heo may đi biền biệt đã quay về
Trên phiến lá in dấu tình vàng rợi
Trên môi cười lấp lánh nắng hoang mê.
Lòng ta vướng trăm ngàn đường tơ óng

Em phù du ngọt lịm sắc thu vàng
Tim ta đổ hồi chuông chiều vĩnh cửu
Em tím trời mây biếc gọi mùa sang...

Thơm lừng lựng không gian…ôi diễm tuyệt

Dịu dàng xanh cốm nếp ủ hương sen
Ngan ngát quá màu thời gian chầm chậm
Tiếng tơ lòng diệu vợi ở vô biên...
Ta chờ em cuối ngõ về mây trắng

Sắc thu xưa lặng lẽ dậy hương rồi
Mang theo nhé đóa cúc quỳ vàng nắng
Hai đứa mình kết lại những mùa vui.
31/7/2019

Lời Bình; Châu Thạch
Đầu tháng 7 âm lịch. Trời đã vào thu. Những cơn mưa đầu mùa làm dịu đi cái nắng oi ả. Buổi trưa, tôi nằm trong phòng lạnh đọc bài thơ “Thu Trở Lại” của Nguyên Bình cảm thấy mình khi thì như hóa thành “mây trắng” bềnh bồng trong ánh “nắng hoang mê”, khi thì tâm hồn như mắc vào “trăm ngàn đường tơ óng” ánh, và khi thì nghe như có mùi “cốm nếp ủ hương sen” tràn ngập trong căn phòng bé nhỏ của mình. Bài thơ nhẹ như gió. Lần đầu tiên tôi đọc một bài thơ thu mà sóng lòng gợn lên rất nhẹ, tâm hồn mát như ngồi trong phòng se lạnh, nhìn ra bầu trời thấy thu về trên “mây biếc gọi mùa sang” và trên những “phiến lá in dấu tình vàng rợi”.
Thật vậy, hãy đi vào mùa “Thu Trở Lại” của Nguyên Bình để thử tìm thứ hương vị của buổi đầu thu có gì lạ trong thơ:
Em ơi em... kìa mùa thu trở lại

Heo may đi biền biệt đã quay về
Trên phiến lá in dấu tình vàng rợi
Trên môi cười lấp lánh nắng hoang mê.

Mở đầu bài thơ tác giả gọi “Em ơi em..,” làm ta cứ tưởng em ở gần đâu đó. Đọc đến cuối bài thơ ta mới biết em không có ở đây. Thế nhưng tiếng thơ đã dự bị cho ta một tình thân thắm thiết. Tiếp đến là câu thơ “Heo may đi biền biệt đã quay về” khẳng định cho ta biết mùa thu nầy không phải là mùa thu năm trước trở lại. Chữ “heo may đi biền biệt’ cho ta hiểu mùa thu trở về là mùa thu của một thuở nào xa xôi trong lòng tác giả, có thể là mùa thu mà hai kẻ đã yêu nhau. Thật vậy, bởi vì chỉ có mùa thu yêu nhau thì người được yêu mới nhìn thu đẹp như hai câu thơ sau đây:

Trên phiến lá in dấu tình vàng rợi
Trên môi cười lấp lánh nắng hoang mê.

Tác giả thật lảng mạn và lạc quan vô cùng khi nhìn thấy dấu tình yêu năm xưa, nay nằm trên phiến lá của mùa thu mới trở về, và thấy lại đôi môi cười năm xưa trong nắng hoang mê.

Cả khổ thơ phải nói là một sự hoang tưởng, một khúc thụy du giữa ban ngày. Tác giả nhìn mùa thu về hôm nay mà thấy toàn bộ mùa thu năm trước. Tác gỉa chưa thấy em, chỉ mới thấy thu mà sự hưng phấn đã tràn ngập trong hồn. Bởi vậy tác giả gọi ngay “Em ơi em..” như người yêu năm xưa đang đứng đâu đó rất gần. Có lẽ ‘mùa “Thu Lại Về”đúng cái lúc mà hoài vọng trong lòng nhà thơ đã trở thành hy vọng. Cũng có lẽ mùa “Thu lại về” đúng cái lúc mà nhà thơ tuyệt vọng, hóa diên nên hoang tưởng toàn những điều tốt đẹp. Nào ta có biết được cái gì xảy ra trong lòng tác giả, chỉ biết là dầu sự thật là gì thì bốn câu thơ trong khổ vào đề, vẽ đạt bức tranh một mùa thu đi xa biền biệt đã trở về với sắc màu “vàng rợi”, đẹp một cách “hoang mê”!

Khổ đầu của bài thơ tả cảnh, khổ thứ hai của bài thơ tả tình. Tình ta và tình em đều là thứ tình ảo tưởng hòa nhập ở trong thu:
Lòng ta vướng trăm ngàn đường tơ óng

Em phù du ngọt lịm sắc thu vàng
Tim ta đổ hồi chuông chiều vĩnh cửu
Em tím trời mây biếc gọi mùa sang...

Nhà thơ chính là con tằm nhả tơ, nhưng nhà thơ lại “vướng trăm ngàn đường tơ óng”. Vậy là con tằm nhả tơ đang mằm ở trong tơ. Nghĩ như vậy ta mới thấy rằng câu thơ bộc lộ đến rốt ráo sự đê mê trong lòng tác giả khi nhìn thấy thu về. Phù du nghĩa là gì? Phù du là loại sâu bọ có cánh, bay được, sống dưới nước thời gian rất ngắn, khi thấy ánh sáng thì nó lao vào để thân hình bị thiêu đốt. Phù du chỉ cuộc đời ngắn ngủi rất buồn . Vậy mà nhà thơ đã viết “em phù du ngọt lịm sắc thu vàng”có nghĩa là nếu em không chết trong mùa thu thì em cũng hóa mình vào mùa thu để làm cho mùa thù tuyệt đẹp. Tại sao nhà thơ viết vậy? Ta có thể suy đoán rằng nhà thơ đã mất em vào môt mùa thu nào đó. Trong ký ức cúa nhà thơ mùa thu ấy quá đẹp, dể bây giờ mùa thu trở lại mang dáng dấp thu xưa, làm cho tâm hồn thi nhân sống lại với cuộc tình từ thưở xa xôi. Cuộc tình ấy đã chết như con phù du chết trong một buổi “ngọt lịm sắc thu vàng”
Thế rồi mùa thu trở lại trong thực tế hay là mùa thu trong ký ức tác giả ta không biết được, đã loang sắc và hương cả đất trời . Có lẽ là cả hai mùa thu xưa và nay đã hòa điệu trong tiếng tơ lòng của tác giả:
Thơm lừng lựng không gian…ôi diễm tuyệt

Dịu dàng xanh cốm nếp ủ hương sen
Ngan ngát quá màu thời gian chầm chậm
Tiếng tơ lòng diệu vợi ở vô biên...

Đọc thơ ta thấy rằng, cốm không những thơm lừng không gian mà còn ngan ngát trong thời gian. Vậy thì cái hương đó, cái vị đó có thể trôi từ quá khứ trở về. Tiếng tơ lòng của tác giả diệu vợi không phải ở thời điểm này mà ở tự vô biên. Vô biên là không biên giới, có nghĩa là tiếng tơ lòng tác giả ở nơi nào trong tâm khảm mà nhà thơ không thể định vị, đã thăng hoa trong thời gian hiện tại khi nhà thơ thấy bóng dáng của múa thu từ thuở yêu nhau trở lại và nhờ đó, kỷ niệm của mùa thu năm xưa hiển hiện trong lòng.
Đến khổ thơ cuối cùng tác giả vẫn còn hoang tưởng trong hy vọng rất hảo huyền:
Ta chờ em cuối ngõ về mây trắng

Sắc thu xưa lặng lẽ dậy hương rồi
Mang theo nhé đóa cúc quỳ vàng nắng
Hai đứa mình kết lại những mùa vui.

Chờ em ư? Em trở về mang theo đóa cúc quỳ vàng nắng ư? Khó lắm vì em đã đi biền biệt từ một buổi gió heo may năm xưa. Thế nhưng ta yêu tâm hồn thi nhân vô cùng khi nhà thơ vẫn chờ em ở “cuối ngỏ về mây trắng”. Mây trắng là mây của nhà Phật. là mây của những tâm hồn vô ưu. Nhà thơ vẫn chung thủy vơi em trăm năm, vẫn nhớ em ngàn năm nhưng chờ em ở “cuối ngỏ về mây trắng” là chờ em với tâm hồn thanh thản, không oán, không giận, không thù, không cả nhiều đau khổ. Nhờ vậy bài thơ “Thu lại Vể” cũng nhẹ như mây trắng bay, như mây trắng thong dong trên bầu trời quang đảng. Nhờ vậy bài thơ “Thu Lại về” đẹp như trái tim tác giả, trái tim chung thủy mà nhà thơ đã thốt “Tim ta đổ hồi chuông chiều vĩnh cửu” mỗi khi “Em tím trời mây biếc gọi mùa sang”. Không có ý thơ nào đẹp hơn trái tim thành chuông rung trong vĩnh cửu chiều để gọi hồn em ở trong mây biếc của vĩnh viễn những mùa thu.
Đọc “Thu Lại Về”ta như đi trong một giấc mơ, một giấc mơ mà quá khứ và hiện tại xen kẽ vào nhau, chồng lên nhau nửa hư nửa thật. Giấc mơ ấy như ta đang tỉnh, như ta đang hoang mê, như ta đang ở giữa mùa thu thực tại, như ta ta đang ở giữa mùa thu quá khứ. Tất cả bài thơ được kết lại bằng niềm hy vọng tuyệt đẹp nhưng nếu nghĩ cho cùng thì vết đau trong tim còn “vĩnh cửu” vạn ngàn thu. Tôi mới ngộ ra rằng, thơ thu dầu tác giả không muốn sầu, cuối cùng sầu vẫn đọng lại cuối thơ càng thêm da diết!
Châu Thạch

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2019

ĐỌC ĐƯỜNG THI KHOÁN THỦ



ĐỌC ĐƯỜNG THI KHOÁN THỦ CỦA HỒ VĂN CHI.
Châu Thạch
Chơi  thơ là một cái thú thanh tao. Chơi thơ Đường Thi là một cái thú vừa thanh tao vừa trí tuệ  vì thơ Đường là thơ bác học, cần thi pháp và cần kiến thức ở tầm cao thì thơ mới hay được  .
Đường Thi có  trên 40 cách chơi thơ khác nhau. Một trong những cách đó là “Đường thi khoán thủ”.
Đường thi khoán thủ là cách sáng tác một bài thơ Đường, lấy những chữ trong đề mục làm chữ đầu của mỗi câu thơ.
Có nhiều hình thức khoán thủ như: khoán thủ chiết tự, dĩ đề vi thủ, tung hoành trục khoán..vv.
Chính vì sư độc đáo của Đường Thi Khoán Thủ mà rất nhiều nhà thơ có thú vui sáng tác thể loại nầy. Một trong những tác giả gần đây chơi Đường Thi Khoán Thủ là nhà thơ Hồ Văn Chi, cây bút được mến mộ ở Đà Nẵng, đã từng làm tăng thêm niềm vui bóng đá với nhưng bài thơ sôi động về Word Cup
Người sáng tác Đường Thi Khoán Thủ  thường dùng một câu ca dao, một câu tục ngữ hay một câu thơ được đời yêu mến để làm câu khoán thủ cho bài thơ của mình. Nhà thơ Hồ Văn Chi thích dùng các câu thơ  trong truyện Kiều của Nguyễn Du  để làm  câu thơ khoán thủ. Đó là một lựa chọn  khôn ngoan vì truyện Kiều nhiều người biết, thơ Kiều nhiều người thuộc.  Ngoài ra trong Kiều còn vô số những câu thơ  hay có khả năng làm cho bài Đường thi được sống động thêm, làm cho bài thơ vừa sáng tác được viền bởi câu khoán thủ, giống như một bức tranh đặt trong cái khung trầm hương quý giá.
Ta hãy thử đi vào bài thơ “Nỗi Lòng Kiều Nhi” được khoán thủ từ câu Kiều 482 “Đục như tiếng suối mới sa nửa vời”:
NỖI LÒNG KIỀU NHI
(Khoán thủ câu Kiều 482)
ĐỤC trong, chẳng biết chốn nào hơn
NHƯ tỉnh như mê cứ chập chờn
TIẾNG lóng đong đưa chiều viện khách
SUỐI châu thánh thót rũ nguồn cơn
MỚI thôi đã lắm điều nhơ nhớp
SA mãi càng thêm nỗi tủi hờn
NỬA thực nửa hư lòng quặn thắt
VỜI trông biền biệt dặm quan san!
29/6/2019. HVC
“ĐỤC NHƯ TIẾNG SUỐI MỚI SA NỬA VỜI”  là câu thơ số 482 của truyện Kiều . Đây là câu  thơ trong đoạn Kiều khảy đàn lần thứ nhất cho Kim Trọng nghe. Hồ Văn Chi đã dùng câu thơ nầy của Nguyễn Du để cảm tác cho cả cuộc đời của Thúy Kiều. Chỉ hai câu vào đề nhà thơ đã giới thiệu được  cả cuộc sống trôi nổi không biết đâu là bến đục, không biết đâu là  bến trong, không biết lúc nào là mê, không biết lúc nào là tỉnh  trong cuộc trầm luân  15 năm đòi đoạn của Thúy Kiều. Hai câu kế tiếp là những giọt nước mắt thảm thương của Kiều chảy ra hay nuốt vào lòng, trong khi phải bấm bụng nói  lời ngọt ngào với khách ăn chơi, nơi nàng phải chịu làm gái thanh lâu. Rồi hai câu luận (5 và 6) nhà thơ  dùng lời bi thiết kể về niềm đau của thúy Kiều. Đời Kiều đã  bị nhúng xuống bùn nhơ, sa lầy trong nỗi tủi hờn càng lúc càng sâu.
Hai câu kết như tiếng đàn cung trầm, quặn thắt vì một thân phận mơ hồ, một kiếp trống bèo dạt mây trôi biền biệt quê hương.
Toàn bộ bài thơ vọng lên một cung đàn, một cung đàn đục như tiếng suối, tiếng suối còn sa nửa vời nên không biết sẽ chảy về đâu. Đọc bài thơ thì ngắn nhưng kể lại được cả đời Kiều dài lắm, thương đau trăn trở trong thơ đã đem đến cho ta một nỗi niềm bi thiết.
Đó là nhà thơ Hồ Văn Chi đã khoán thủ một câu thơ Kiều để kể về cuộc đời Kiều. Bây giờ nhà thơ khoán thủ một câu thơ Kiều khác để nghe tiếng khóc của nàng Kiều thảm thiết đến đâu:
KIỀU TỰ THÁN
(Khoán thủ câu Kiều 1222)
VỠ mộng trăm năm quá bất ngờ
LÒNG đau ruột thắt, rối đường tơ
HỌC ve tập vuốt thêm trơ tráo
LẤY nhục làm vui giả khạo khờ
NHỮNG cảnh ong chường rồi bướm chán
NGHỀ gì mặt dạn lại mày dơ
NGHIỆP kia mãi cột vì đâu tá
HAY bởi hồng nhan thảy vậy nờ!
28/6/2019. Hvc
“VỠ LÒNG HỌC LẤY NHỮNG NGHỀ NGHIỆP HAY” là câu thơ thứ 1222 trong truyện Kiều. Câu thơ nầy là tiếng khóc của Thúy Kiều, khóc cho một quá khứ thuộc dòng nho gia, chữ tốt đàn hay, mà bây giờ  phải nhận làm gái lầu xanh sau  khi phải bán mình chuộc cha, sau khi bị mắc lừa tên Sở Khanh, đành phải nghe lời Tú Bà làm cái việc “mặt dạn mày dày”, “Vành ngoài bảy chử vàng trong tám nghề”.  Bài  thơ đã đi từ cái mộng trăm năm của Thúy Kiều bị tan vỡ, đó là cái mộng kết duyên cùng Kim Trọng, cho đến cái nghiệp  lấy nhuc làm vui, cái thân ong chường bướm chán.
Hồ Văn Chi đã dùng một câu thơ vàng son của đời Thúy Kiều để tá khách vào cuộc đời trớ trêu, đau đớn của Thúy Kiều. Sự đối nghịch giữa câu Kiều khoán thủ và lời tự thán của Kiều trong thơ làm cho sự ngang trái  càng thêm ngang trái.
Đọc “Kiều Tự Thán”, ta thấy Hồ Văn Chi treo  một bức tranh khác với bức tranh “Nỗi Lòng Kiều Nhi” ơ trên.  Ta nhìn thấy  trong bức tranh nầy những biến động làm xáo trộn cuộc đời, gây nên một bức xúc, một nhục nhả cho Kiều, lại được treo trong một chiếc khung có màu sắc của tuổi thơ an lạc. Chiếc khung đó là câu Kiều khoán thủ 1222: “VỠ LÒNG HỌC LẤY NHỮNG NGHỀ NGHIỆP HAY”. Đây là một cách cấu kết sườn của một bài Đường thi khoán thủ đầy nghệ thuật . Cả hai bài thơ , mỗi bài nhà thơ  đã vô cùng khéo léo khi dùng một câu Kiều để ghép vào thơ, tạo hình ảnh hài hòa, tạo âm thanh đồng điệu, tạo xúc tích  cho từ ngữ và thật sự, tạo sự thăng hoa cho người thưởng thức thơ.
Dùng thơ Kiều để nói về Kiều là một cách chơi Đường Thi Khoán Thủ lý thú. Thế nhưng dùng thơ Kiều làm câu khoán thủ để nói về đời mình cũng vui và hay không kém. Ta hãy đọc một Đường Thi Khoán Thủ của Hồ Văn Chi nói về đời lính của mình:
“CHẲNG TRONG CHĂN GỐI CŨNG NGOÀI CẦM THƯ” trong  Kiều số 3222 là câu thơ ở đoạn kết chuyện Kiều, khi mà Kiều và Kim Trọng đoàn tụ cùng nhau. Họ sống với tình bạn trong sạch khi “Phím đàn dìu dặt tay tiên”, “Khi chén rượu khi cuộc cờ” bên nhau.
HỒ Văn Chi đã dùng câu  thơ rất thanh bình nầy để nói về chiến tranh. Đó là một nghê thuật  kết cầu bài thơ mà  nhà thơ đã dùng ở trên, nhưng  táo bạo hơn và độc đáo hơn. Đây là tâm sự của một thế hệ đã qua, thế hệ mà chiến tranh triền miên đã làm cho mất biết bao nguồn vui của tuổi trẻ, đày đọa bao lớp người trong gian khổ gối đất năm sương, vượt núi băng ngàn, xa cha mẹ vợ con. Thời gian đã trôi xa nhưng ký ức thì còn mãi. Đọc thơ ta thấy hình ảnh Kim Trọng Thúy Kiều  làm nền cho một bức tranh sống động. Sự gian lao khổ cực và sự  nhàn hạ kề cận bên nhau trong một khung hình cho ta những suy nghiệm  về hòa bình, chiến tranh và mọi sự còn,  sự mất trong đời.
Nhiều người còn không thích Đường thi, nhiều người còn công kích Đường thi, nhiều người đã phá những cách chơi Đường thi phải nói là nhiêu khê, rắc rối như “Thuận Nghịch Độc”, “Bát Điệp Độc vân”, “Hoán Vận”, “Dĩ Đề Vi thủ”..vvv
THế nhưng tôi nghĩ, nếu chúng ta không cực đoan, từ từ tìm đến và tìm hiểu Đường thi, làm quen với Đường thi như Đường thi của  Hồ văn Chi, thì có lúc tâm hồn sẽ reo lên thích thú nhiều hơn khi  chúng ta phá được những nước cờ hay, hoặc nhìn những đường bóng đá thần thoại bay vào khung đối thủ.  Tất nhiên  Đường  thi không  làm cho ai nhảy cởn lên hay là phất cở đi Bão, vì nó là  sự suy tư, sự điềm đạm, là thơ, là văn chương, là nguồn vui nhẹ nhàng,  thanh tao và  sâu sắc, mang linh hồn của người quân tử, của cây tùng cây bách đứng dưới trăng sao!!!
Châu Thạch

Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2019

ĐỌC “NGŨ NGÔN TÌNH”




ĐỌC “NGŨ NGÔN TÌNH”
THƠ TRẦN MAI NGÂN.
NGŨ NGÔN TÌNH
Ngày không mưa không nắng
Tôi chẳng vui chẳng buồn
Thời gian không gian...lặng
Một nhịp sầu đang tuôn!

Mây không trôi dừng lại
Im ắng trắng tinh khôi
Lời xa xôi không nói
Có nói cũng vậy thôi!

Ngày không Đông không Hạ
Sao sốt lạnh trong ta
Mấy cánh hoa giã biệt
Bỗng thành người lạ xa...

Thoáng mây mưa đã qua
Hai bàn tay rỗng tuếch
Bám tìm vào không trung
Tưởng mộng cũ trùng phùng...
Trần Mai Ngân
27-11-2017
Cảm nhận của Châu Thạch
Trước hết, đọc cài đầu đề của bài thơ là “Ngũ Ngôn Tình” cho ta hiểu đây là thứ ngôn ngữ của tình yêu. “Ngũ Ngôn Tình” hiểu theo nghĩa hẹp là bài thơ sáng tác theo thể ngũ ngôn (năm chữ) nói về tình yêu. “Ngũ Ngôn Tình” hiểu theo nghĩa rộng là 5 thứ ngôn ngữ có trong kho báu của tâm hồn để hai người yêu nhau đem tặng nhau và làm giàu lâu đài tình ái của mình. Lời nói yêu thương, quà tặng ý nghĩa, thời gian cho nhau, hành động cao thượng và cử chỉ trao nhau là 5 ngôn ngữ tình yêu cần và đủ để cuộc tình thăng hoa mà các nhà nghiên cứu đã rút ra từ kinh nghiệm tình trường, qua bao nhiêu thế hệ con người.
Nhà thơ Trần Mai Ngân trong ẩn ý, muốn đề cập đến ngôn ngữ đó trong quá khứ cuộc tình, thứ ngôn ngữ mà không thể lấy “tam đoạn luận” để hiểu nó được. Cho nên khi đọc thơ “Ngũ Ngôn Tình Yêu” ta cũng không thể đi vào thơ bằng cái suy luận “Tam Đoạn”, thứ cơ bản mà thầy đã khai trí khi ta còn ấu trỉ mới tập tò học triết.
Thật vậy, đọc khổ đầu bài thơ, dễ có kẻ đã phản đối vì chưa cảm thụ được cái hay của “Ngũ Ngôn Tình”:
Ngày không mưa không nắng
Tôi chẳng vui chẳng buồn
Thời gian không gian...lặng
Một nhịp sầu đang tuôn!
Có người đánh dấu hỏi ngay vào câu thơ “Một nhịp sầu đang tuôn!”. Họ sẽ hỏi rằng:  Tâm trạng  người thơ lúc ấy ”chẳng vui, chẳng buồn” sao lại cảm nhận được “Có một nhịp sầu đang tuôn!”. Họ sẽ lý luận rắng: “Tôi đã vô cảm ,không buồn không vui, thế thì theo “tam đoạn luận” mọi vật quanh tôi sẽ cũng không buồn, không vui như tôi.”
Để  giải thích cho hợp lý câu hỏi trên, trước hết ta phải hiểu với nhau rằng, “chẳng vui, chẳng buồn” không phải là vô cảm. “ chẳng vui chẳng buồn” là tâm trạng xảy ra giữa sự buồn và sự vui mà thôi. Khi Kiều ngồi trước Lầu Ngưng Bích, nàng nhớ cha mẹ, nhớ người tình, buồn cho tấm thân của mình đến độ ngồi trên cao mà nàng nghe “Ầm ầm tiếng sóng kếu quanh ghế ngồi”. Lúc đó mới chính là lúc Kiều  như ngất đi và trở thành vô cảm.
Ngược lại khi Kiều chẳng vui chẳng buồn, đàn cho khách chơi hoa nghe thì nàng không thấy hứng thú gì, nhưng sự cảm nhận thế giới chung quanh  thì không mất được.
Ta hãy nghe một lần  Bùi Giáng trong tâm trạng chẳng vui  chẳng buồn:
Mùa xuân lại với chim về đã mỏi
Với cá về mây nước cũng lang thang
Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng
Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá.
(Không đủ gọi)
Có phải chăng nhắm con mắt hay mở con mắt nhà thơ đều mơ màng, có nghĩa là nhà thơ đang chìm trong tâm trạng “chẳng vui chẳng buồn”. Thế nhưng  Bùi Giáng vẫn nghe được “Mùa xuân lại với chim về đã mỏi” và “Với cá về mây nước cũng lang thang”. Phải chăng những điều đó là “một nhịp sầu đang tuôn” mà Trần Mai Ngân cũng như Bùi Giáng, đã nghe ở trong không gian và trong cả thời gian , nhưng Trần Mai Ngân đã diễn đạt trong thơ mình một cách khác mà thôi.
“Chẳng vui chẳng buồn” có khi là lúc tâm hồn trống rổng nhưng cũng có khi là lúc tâm hồn bình an nhất. Các nhà sư thiền định,  khi họ “chẳng vui chẳng buồn” là đã đạt được  sự bình an, tâm tư lắng đọng, không bị cảnh bên ngoài chi phối, vượt lên sự buồn vui thường tình, thực sự vững chắc an trú trong trong hạnh phúc tỉnh lạc của mình. Lúc đó nếu ta nói các thiền sư “chẳng vui chẳng buồn” là vô cảm thì xin lỗi, phải nói nặng một câu là “tư duy còn ngắn”. Ai cũng biết rằng Phật và các vị Bồ Tát rong chơi trong cõi Thường Hằng, họ “chẳng vui chẳng buồn” nhưng họ vẫn nghe  “một nhịp sầu đang tuôn” trong cõi ta bà của nhân loại trong từng phút từng giây.
Tất nhiên người viết bài nầy không bao giờ dám dùng cái tâm trạng “chẳng vui chẳng buồn” của Trần Mai Ngân đề so với các bậc tu hành. Thế nhưng  chủ ý của người viết là đem các vị ấy ra để minh chứng cho khổ thơ “Ngày không đông không hạ/ Tôi chẳng vui chẳng buồn/Thời gian không gian … lặng/Một nhịp sầu đang tuôn” là một khổ thơ hay, đặt cảm xúc ngưng tụ giữa vui buồn của nội tâm mình một cách hợp lý trong  cuộc tình sầu dài năm tháng,  dài như dòng sông tuôn chảy lặng lờ qua bao thế kỷ mà người thơ luôn nghe trong tận cùng tâm cảm của mình dầu đã đóng cả cửa tâm hồn mình lại.
Qua hai khổ thơ sau, nhà thơ Trần Mai Ngân thổ lộ rõ hơn nữa, cái “chẳng vui chẳng buồn” chính  là sự hờn giận, trách móc chất chứa trong tim yêu nhiều, yêu lắm. Ta hiểu thêm, “chẳng vui chẳng buồn”  là một cách nói ý nhị của nguời con gái đã  yêu và yêu sâu đậm:
Mây không trôi dừng lại
Im ắng trắng tinh khôi
Lời xa xôi không nói
Có nói cũng vậy thôi!
Ngày không Đông không Hạ
Sao sốt lạnh trong ta
Mấy cánh hoa giã biệt
Bỗng thành người lạ xa...
Có người lấy câu thơ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của Nguyễn Du để trách Trần Mai Ngân đã nghịch lý khi thổ lộ mình  chẳng buồn chẳng vui mà lại đế cảm xúc tràn lên trong mỗi câu thơ.
Người hiểu như thế thì chưa thấu đáo sự tác động khác nhau giữa tâm hồn ra ngoại cảnh và ngoại cảnh vào tâm hồn. .
Khi viết “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Nguyễn Du chỉ đề cập đến tâm trạng của người tác động vào mắt mình khi nhìn ngoại cảnh. Thế nhưng có khi nhờ cảnh làm cho người buồn hóa vui mà cũng có khi tại cảnh làm cho người vui hóa buồn. Ở câu thơ trên Nguyễn Du chỉ đề  cập đến cảnh bị thụ động bởi tâm trạng người. Ngược lại tâm trạng người bị thụ động bởi cảnh thuộc về một vế khác mà Nguyễn Du không đề cập đến.
Ở bài thơ nầy Trần Mai Ngân viết “Ngày không mưa không nắng”, “Mây không trôi dừng lại”, “Ngày không đông không hạ” làm cho nhà thơ nghe “Có một nhịp sầu đang tuôn” và thấy “”Hai bàn tay rỗng tuếch” là đem cảnh tác động vào tâm hồn người, nghĩa là tâm trạng người bị thụ động bởi cảnh, khác với việc người buồn làm cảnh buồn theo. Thế nhưng dầu tác động từ trong lòng ra hay từ ngoại cảnh vào thì nhân vật trong thơ cũng đã có sẳn nỗi ưu tư trong lòng, từ đó cảnh sẽ sinh tình, cho nên khi “Ngày không mưa không nắng” đã làm cho “Tôi chẳng vui chẳng buồn”.
Nhà thơ La Thụy đã nói: “Thơ có những cái nghịch mà Hàn Mạc Tử khi viết bài Tình Quê “Gió chiều quên ngừng lại/ Dòng nước luôn trôi đi/ Ngàn lau không tiếng nói/ Lòng anh dường đê mê”. Khi “gió chiều quên ngừng lại” thì làm sao “ngàn lau không tiếng nói được”.
Nếu đem “Tam đoạn luận” vào đây để bình, có lẽ Hàn Mạc Tử bi ném đá là nhà thơ ngớ ngẩn chăng? Hay là người dùng thứ tam đoạn luận đã nhầm?
Nhà thơ La Thụy viết thêm:”Thơ viết bằng tâm cảm, thể hiện tâm cảnh”.
Hiểu như thế ta sẽ thấy rằng Trần Mai Ngân  đã hòa nhập tâm cảm của mình trong tâm cảnh của vạn vật, cho  tất cả đều ngưng tụ lại bên tình yêu, nhưng tình yêu ấy không ngưng tụ, nó như dòng sông buồn vẫn tuôn chảy tháng năm.
Khi ta đứng bên dòng sông nào đó, để tâm hồn lắng đọng cùng với vạn vật yên bình, ta sẽ hiểu câu thơ của Trần Mai Ngân  bằng tâm cảm của ta, thì sẽ thấy rằng câu thơ vô cùng tuyệt mỹ.
Ở khổ thơ chót, vẫn trong tâm trạng không vui không buồn, Trần Mai Ngân đã sống lại với quá khứ bằng một mơ ước rất hảo huyền:
Thoáng mây mưa đã qua
Hai bàn tay rỗng tuếch
Bám tìm vào không trung
Tưởng mộng cũ trùng phùng...
Chỉ “Mộng cũ trùng phùng thôi” còn tình cũ chắc không bao giờ quay lại!
Nhà thơ đã tìm trong cái mông lung vô định của không trung và bám vào đó bằng đôi bàn tay rỗng tuếch của mình.
Đọc như thế mỗi chúng ta đều hiểu được ý thật của câu nói “Tôi chẳng vui chẳng buồn”.
Trần Mai Ngân nói “Tôi chẳng vui chẳng buồn” bởi vì người ấy đã “Lời xa xôi không nói”, “Mấy cánh hoa giã biệt/Bổng thành người xa lạ”. Đây là lời của một kẻ muốn đóng con tim nhưng con tim lại cứ nghịch với mình. Con tim ấy cứ mở ra cho dỗi hơn thổn thức, cho nỗi đau làm vạn vật ngưng lại trong tâm cảm mình, nhưng thực ra mọi vật vẫn vận hành và con tim thì tê tái, vì thế nó mới thành thơ “Ngũ Ngôn Tình” được.
Bài thơ ngũ ngôn của Trần Mai Ngân tất nhiên không để ca tụng thứ ngũ ngôn tình theo nghĩa làm thăng hoa cho những mối tình trai gái, Thế nhưng nếu cuộc tình không được thụ hưởng thứ ngôn ngữ tình thăng hoa đó, thì không khi nào nó biến thành một bài thơ được. Trần Mai Ngân đã dùng bài thơ ngũ ngôn (5 chữ) để nói về cuộc tình có đầy đủ năm ngôn ngữ của tình ở một thuở nào đó mà nay đã mất đi.
Bài thơ được viết sâu nhiệm trong những ẩn dụ, bằng những ngôn từ tiềm tàng tri thức, tưởng như người thơ đóng hết ngũ quan lại nhưng thật sự mở ra bằng ngôn ngữ tình thơ vô vàn cảm xúc.
Châu Thạch