THÔI TA GIÃ PHỐ TÌM QUÊ,THỎNG TAY BUÔNG BỎ NHIÊU KHÊ LỤY PHIỀN.THÀ VỀ GỐI GIẤC CÔ MIÊN ,TIÊU DAO ĐÙA GIỠN CÕI MIỀN NGUYÊN SƠ!CÁM ƠN CÁC BẠN GHÉ THĂM VÀ GHI CẢM NHẬN!

Thứ Bảy, 28 tháng 10, 2017

KHẬP KHIỄNG HAY KHÔNG KHẬP KHIỄNG?


Tác giả Phạm Đức Nhì

KHẬP KHIỄNG HAY KHÔNG KHẬP KHIỄNG?
  (Về bài viết Hai Bài Thơ Quê Hương-
 Hai Tâm Tình Khác Biệt của Châu Thạch)

Từ Một Bình Luận Trên Facebook
Mới đây nhà phê bình Châu Thạch có bài bình thơ Hai Bài Thơ Quê Hương - Hai Tâm Tình Khác Biệt đăng trên FB và vài trang web văn học. Hai bài thơ đó là Bài Học Đầu Cho Con của Đỗ Trung Quân và Quê Hương của Nguyên Lạc. CT đã nương theo tứ thơ để cảm nhận và sau đó, bằng văn tài sở trường của mình, diễn đạt một cách mạch lạc và bay bướm, tâm tình của hai tác giả.

Lang Bạt, một bạn đọc Facebook đã viết một bình luận khá dài dưới bài viết Về Cách Hành Xử Của Một Nhà Bình Thơ của Nguyên Lạc trên FB, trong đó có câu: “Việc đem bài thơ Quê Hương (của Nguyên Lạc) để so sánh với (bài thơ của) Đỗ Trung Quân thật là khập khiễng.” (Mấy chữ trong ngoặc đơn là của PĐN) (1). Ý chị muốn nói giá trị nghệ thuật của hai bài thơ cách biệt quá xa, đặt cạnh nhau để so sánh rất khập khiễng, không cân xứng.

Bình luận của chị Lang Bạt đúng hay sai? Nói khác đi, đặt hai bài thơ Quê Hương của Nguyên Lạc và Đỗ Trung Quân cạnh nhau để so sánh có khập khiễng không? Tôi không phải là người “ba phải” nhưng đọc bình luận của chị không hiểu sao lại nghĩ ra hai câu trả lời trái ngược nhau. Dĩ nhiên, có lý do để tôi nẩy ra ý nghĩ trái khoáy như thế. Xin viết ra đây như một câu chuyện văn chương để bạn đọc thưởng thức, và nếu có nhã hứng, góp ý hay bình luận.

Câu Trả Lời Dựa Vào Bài Viết Của Châu Thạch
Bình thơ là giúp người đọc trả lời 3 câu hỏi. What? (Viết gì?), How? (Viết thế nào?), và When? (Viết trong tâm cảnh nào?). CT không những đã trả lời mà còn tán rộng ra, và đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra cho bài viết của mình qua tiêu đề Hai Bài Thơ Quê Hương – Hai Tâm Tình Khác Biệt.
Tuy nhiên, đọc bài viết thật kỹ tôi nhận thấy Châu Thạch không nói gì đến hai câu hỏi sau mà chỉ đặt trọng tâm câu trả lời của mình – là bài viết - ở câu hỏi thứ nhất. Khi lờ đi hai đặc tính quan trọng nhất để phân biệt  thơ với văn, anh tuy gọi chúng là “Hai Bài Thơ” nhưng thật ra, đã đối xử với chúng như là hai đọan văn, hai công cụ chuyển tải thông tin không hơn không kém.

Chỉ nói đến chức năng truyền thông mà lờ hẳn đi chức năng nghệ thuật – tính thơ của bài thơ và tài thơ của thi sĩ - thì một tuyệt tác thi ca có khác gì một bài thơ của một người mới tập tành chọn chữ, so vần.
Chính vì thế, trong bài viết của Châu Thạch, “hai bài thơ” đặt cạnh nhau rất cân bằng và bình thường, chẳng có gì là khập khiễng hết.

Câu Trả Lời Dựa Vào Nghệ Thuật Thơ Của Hai Bài Thơ
Đây không phải là những bài bình thơ “trường lớp” theo đúng trình tự một cách bài bản. Tôi sẽ chỉ đi thẳng vào những chỗ hay, chỗ dở rồi tổng hợp để bạn đọc hình dung được giá trị nghệ thuật của bài thơ một cách tương đối. Riêng phần tứ thơ, anh Châu Thạch đã phân tích và bàn luận quá kỹ nên tôi sẽ không nói tới nữa, trừ trường hợp thật cần thiết.

Bài Học Đầu Cho Con Của Đỗ Trung Quân
     1/ Đoạn Thơ Quá Xạo
Nói đến bài thơ nổl tiếng này của Đỗ Trung Quân người đọc thơ sành điệu chắc khó có thể quên một đoạn thơ “xạo hết ga” của nhà thơ gốc Thanh Niên Xung Phong:

Quê hương là gì hả mẹ?
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hả mẹ?
Ai đi xa cũng nhớ nhiều.
Với cái tựa Bài Học Đầu Cho Con, đoạn thơ là hai câu hỏi của đứa bé mới học lớp vỡ lòng hỏi mẹ sau khi được cô giáo dạy bài học đầu tiên. ĐTQ đã vô ý đặt 2 câu hỏi quá nặng ký vào miệng đứa bé mới 4, 5 tuổi. Độ xạo của đoạn thơ rất cao, nhưng rất may, theo tôi, không ăn sâu, bắt rễ vào tứ thơ nên chỉ là lỗi kỹ thuật, có thể bỏ đi hoặc sửa chữa khá dễ dàng. 

     2/ Thể Thơ Và Hội Chứng Nhàm Chán Vần 
ĐTQ cho biết (2) BHĐCC có 2 lần được chính thức in ấn: Nguyên bản được chính thi sĩ phổ biến năm 1991 trong tập Cỏ Hoa Cần Gặp gồm 9 đoạn và phiên bản đăng trên báo Khăn Quàng đỏ năm 1986 được chị Việt Nga biên tập (bỏ 3 đoạn) còn 6 đoạn.Theo tôi, còn một phiên bản nữa; đó là lời của ca khúc Quê Hương do Giáp Văn Thạch phổ nhạc từ phiên bản năm 1986 (bỏ thêm 2 đoạn) còn 4 đoạn.

Bài thơ viết theo thể thơ 6 chữ, trường thiên, nhiều đoạn, mỗi đoạn 4 câu.
          a/ Nguyên bản: Gồm 9 đoạn, đọc đến mấy đoạn cuối đã chớm hội chứng nhàm chán vần.  
          b/ Phiên bản năm 1986: Chưa có HCNCV  
          c/ Lời bản nhạc Quê Hương của GVT: Không có HCNCV.
     3/ Ngôn ngữ thơ: tượng hình, đẹp một cách bình dị, nhiều đoạn như là những bức tranh thơ.
     4/ Cái Siêu Của Bài Thơ
Chắc bạn đọc đã nghe nói “thi trung hữu họa” - có nghĩa là trong thơ có họa. Những câu thơ loại này thường được đánh giá cao vì có thể thấm nhập vào tâm hồn người đọc một cách tương đối dễ dàng. Người đọc rất ít phải dùng đến lý trí để “bắt” tứ thơ.
Thí dụ:                                
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
(Áo Lụa Hà Đông, Nguyên Sa)

Hình ảnh chàng trai sánh bước bên người yêu của mình mặc áo lụa Hà Đông giữa nắng Saì Gòn làm 2 câu thơ rất dễ hiểu, có thể đi vào lòng người đọc dễ dàng. Đó là nhờ tác dụng của “thi trung hữu họa”.

Một thí dụ khác:
Tôi đứng bên này sông
Bên kia vùng địch đóng
Làng tôi đấy xạm đen màu tiết đọng
Tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương
(Nhà Tôi, Yên Thao)

Nhờ “thi trung hữu họa”, tác giả không cần dài dòng giải thích mà người đọc vẫn thấy – qua 4 câu thơ -khung cảnh chính làm nền cho bài thơ: Ngôi làng của người lính bên kia sông, đã bị quân địch chiếm đóng “xạm đen màu tiết đọng, tre cau buồn tóc rũ ướt mưa sương”, hiện ra rõ mồn một.
Thi sĩ viết được những câu thơ “thi trung hữu họa” như trên đã được coi là cao tay. Nhưng có những câu thơ còn cao tay hơn nữa, cao đến mức siêu đẳng. Chúng ta thử đọc hai câu dưới đây:

Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc
(Đằng Vương Các Tự, Vương Bột) (3)
Dịch nghĩa:
Ráng chiều rơi xuống cùng cánh cò đơn chiếc đều bay
Làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc
(Trần Trọng San)

Ở đây không phải chỉ trong thơ có họa mà ngôn ngữ thơ đã hoàn toàn tan biến để hóa thân thành bức tranh tuyệt đẹp. Câu thơ “siêu” như thế này sẽ tự động thấm vào hồn người đọc mà không cần đến một mảy may sự “gạn đục khơi trong” của lý trí.
Trong kho tàng thi ca của Việt Nam những bài thơ đạt được mức “siêu” như thế cực hiếm. Tôi tạm thời chỉ có thể đề cử bài Ông Đồ của Vũ Đình Liên. Bài thơ 6 đoạn thì có 5 đoạn đạt mức siêu tuyệt “thi hóa thân thành họa” (trừ đoạn cuối) (4)

Bài Học Đầu Cho Con của ĐTQ cũng có mấy đoạn siêu tuyệt như thế. Khi phổ nhạc GVT đã bỏ đoạn đầu và thay cái tựa. Việc làm rất tinh khôn này đã chữa được chứng bệnh xạo của bài thơ. Sau đó ông lại còn mạnh tay cắt bỏ 2 đoạn khác, thay 2 câu cuối đoạn 4 bằng 2 câu đầu đoạn 5 (5) để ca khúc Quê Hương của ông trở thành một bộ tranh thơ về quê hương tuyệt đẹp. Với bộ tranh thơ đó ông đã giúp ĐTQ tâm tình với khán thính giả bằng Tiếng Người Chân Thật (6).

Tuy chỉ có hai câu nhưng vì là tranh thơ nên “Lạc Hà Cô Vụ” đã được người Trung Hoa xem như một viên ngọc quý giá trong kho tàng văn học của nước họ. Để có được viên ngọc quý đó người Trung Hoa đã phải “đãi cát tìm vàng”, phải sục sạo cả bài Đằng Vương Các Tự hàng trăm câu mới tuyển được hai câu nổi tiếng đó. Trong khi Quê Hương của ĐTQ và GVT là cả một bộ ngọc 6 viên nằm lồ lộ trước mắt người thưởng ngoạn một cách nghệ thuật. Nói như thế để thấy tài thơ trác tuyệt của ĐTQ và công lao to lớn của GVT. Dĩ nhiên, có cả một chút tự hào về Thi Ca của nước nhà khi so sánh với Thi Ca Trung Hoa.

     5/ Cảm Xúc
Có người đặt câu hỏi “Phải chăng với 6 bức tranh thơ, ĐTQ đã bước tới cảnh giới của một thiền sư đạt đạo – cho cái tiểu ngã của mình hòa nhập với cái đại ngã của vũ trụ?” Tôi không nghĩ như vậy.
Chúng ta thử đọc bài thơ Yên Hà Xứ của thiền sư Viên Minh:

YÊN HÀ XỨ

Đáo tận yên hà xứ
Hồi đầu biệt nhất phương
Mục tiền sơn thủy hạo
Nguyệt hiện thảo đầu sương

Dịch thơ:
Thong dong tận cõi mù sa
Quay đầu nhìn lại yên hà một phương
Nước non hùng vĩ thân thương
Lung linh trăng hiện giọt sương đầu cành.
Ở đây thiền sư mới đúng là đã “vất bỏ mọi tư ý tư dục để cái ngã của mình hòa nhập với vũ trụ - Thiên Địa Nhân hợp nhất. Đây có thể coi như một chứng đạo ca, một bài thơ thiền của người đạt đạo.
ĐTQ đặt trọn tâm tình của mình vào một không gian nhỏ bé hơn: khung trời quê hương. Tâm tình ấy lớn quá, sâu đậm quá nên đã lấn át và loại bỏ tất cả những “ý, dục” khác để có thể “độc quyền”hóa thân vào những bức tranh quê tuyệt đẹp. Tuy nhiên, ĐTQ vẫn khác vị thiền sư một chút; tâm cảnh của thi sĩ vẫn có tư ý, tư dục; đó là tấm tình tha thiết của anh đối với quê hương, đất nước. Chút khác biệt ấy, tùy căn cơ, có thể chỉ một tầm tay với, nhưng cũng có thể mù xa vạn dặm.  
     6/ Đoạn Cuối Quá Dở

Riêng đoạn cuối, tôi xin bỏ qua những bàn cãi có tính chính trị, để chỉ nói đến hiệu ứng văn chương.
Ngay khi câu thơ:

Quê hương mỗi người chỉ một

xuất hiện, lý trí đã quay lại để làm nhiệm vụ của nó (xem có đúng là “mỗi người chỉ một” không), và cuộc đối thoại bằng Tiếng Người Chân Thật đã chấm dứt. Tôi cho đoạn cuối dở là dở ở chỗ đó.

Là nguời thích bóng đá, tôi tưởng tượng ĐTQ - với đôi mắt tinh đời, chuyên nghiệp của mình - đã đi khắp nơi chiêu mộ được một dàn cầu thủ sáng giá. Nhưng phải chờ đến Giáp Văn Thạch - người có đôi mắt sắc sảo hơn – đã sàng lọc, tuyển lựa, mạnh dạn loại bỏ một số cầu thủ rất giỏi nhưng không hợp với đấu pháp mới của ông, Quê Hương (tuy vẫn còn một chút khiếm khuyết) đã trở thành một đội tuyển lừng danh, có thể so tài với bất cứ đội tuyển nào trên thế giới.

Quê Hương của Nguyên Lạc

Bài thơ Quê Hương của Nguyên Lạc có một số đặc điểm sau:
     1/ Có một số câu thơ riêng, tâm trạng khác biệt, mới lạ, làm vẻ đẹp của khung trời QH thêm sống động phong phú, tình yêu quê hương thêm chút cay đắng, oán trách, gây thích thú cho độc giả.

Thí dụ:
Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!

Và:
Quê hương ta ơi... đừng nhớ!
Muộn phiền, cay đắng mà thôi!
Cố quên, sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm... người ơi!

     2/ Sinh sau đẻ muộn: 
Quê Hương của Nguyên Lạc được sáng tác sau BHĐCC của ĐTQ trên ba chục năm. Thường thì bài thơ ra đời sau hay bị xếp ở hạng dưới nếu có điểm gì đó giống bài thơ ra đời trước. Lý do: Trong thơ sự sáng tạo (ra cái mới) được khuyến khích tối đa. 

Trong một đoạn trao đổi với Châu Thạch, Nguyên Lạc đã công nhận là viết bài thơ Quê Hương để trả lời ĐTQ, bày tỏ một vài điểm khác biệt trong tâm trạng của mình. Anh đã đạt được mục đích đó, nhưng đổi lại, ngay trong việc chọn đề tài, thể thơ, âm điệu, nhịp điệu, hình ảnh, bài thơ Quê Hương của anh như một cô gái đẹp lại chấp nhận cái kiếp lấy chồng chung, chấp nhận thân phận lẽ mọn vì là “kẻ đến sau”. Chỉ riêng điểm đó đã giảm giá trị của cô gái, và giải mã ẩn dụ, giảm giá trị của bài thơ khá nhiều.

     3/ Bài thơ của NL dài đến 76 câu, thể thơ 6 chữ, âm điệu và nhịp ngắt đều đều, nên mặc dù có thay đổi cách gieo vần – lúc liên tiếp, lúc gián cách, có cả lúc lạc vận - hội chứng nhàm chán vần của bài thơ vẫn khá nặng.

     4/ Bài thơ nhất khí liền mạch, có sóng sau dồn sóng trước theo dòng chảy của tứ thơ để cảm xúc tầng 3 - cảm xúc cao cấp nhất –  xuất hiện, nhưng do ý tưởng hơi bề bộn, thế trận chữ nghĩa xộc xệch nên dòng cảm xúc đó không đủ lớn mạnh để hình thành hồn thơ.

Quê Hương của ĐTQ và GVT là một bản nhạc có lời thơ siêu tuyệt - một bộ 6 bức tranh thơ đẹp một cách bình dị. Người đọc lặng ngắm 6 bức tranh thơ ấy sẽ có cảm giác thật mới lạ: Được thấy tâm tình yêu quê hương say đắm của tác giả tự động thấm nhập vào hồn mình, hoàn toàn tránh khỏi sự can thiệp của lý trí. 

ĐTQ, bằng tài thơ của anh, cộng thêm sự giúp sức của GVT, đã để lại cho đời một tuyệt phẩm kết hợp cả Thơ Nhạc Họa. Tuyệt phẩm ấy đã cho phép tác giả và độc giả được giao tiếp với nhau bằng tiếng Người Chân Thật mà vì sức cuốn hút của cuộc sống, đã quên mất từ lâu.

Quê Hương của Nguyên Lạc cũng là một bài thơ hay. Ngôn ngữ bình dị, đậm mùi Nam Bộ, cảm xúc dạt dào, tâm trạng phức tạp, so với BHĐCC của ĐTQ lúc chưa được phổ nhạc cũng đã nhiều phần bề bộn chữ nghĩa hơn. Nói theo ngôn ngữ bóng đá, NL cũng đi khắp nơi chiêu mộ cầu thủ nhưng anh tham quá. Trong số những cầu thủ anh đưa về có nhiều người giỏi, nhưng cũng có một số chỉ ở mức độ khá. Hơn nữa, trong số những cầu thủ giỏi lại có một số đá trùng vai (vị trí) nên việc gạt bỏ ít nhất 75% cầu thủ để có một đội tuyển hùng mạnh lại vượt quá khả năng của Nguyên Lạc.
Bởi thế Quê Hương của Nguyên Lạc, theo tôi, rất cần một Giáp Văn Thạch, nhưng nhạc sĩ tài hoa đã không còn nữa. Trong số nhạc sĩ đương đại của Việt Nam có thể cũng có người có khả năng “chặt đông chém tây” để bài thơ Quê Hương của Nguyên Lạc thon gọn tới cái vóc dáng tối ưu của nó. Nhưng để người tài hoa gặp, rồi phải lòng với bài thơ, còn cần một chút duyên. Mà ngay cả khi đã có chút duyên ấy, thành phẩm đem so với với Quê Hương của ĐTQ và GVT về giá trị nghệ thuật cũng còn một khoảng cách rất xa.

Tóm lại, bình thơ kiểu Châu Thạch, thơ chỉ là công cụ chuyển tải thông tin, chỉ khác nhau ở Ý, Tứ, còn thì bài nào cũng như bài nấy, đặt cạnh nhau chẳng có gì là khập khiễng hết.

Còn nếu xét về Nghệ Thuật Thơ, câu bình luận “khập khiễng” của Lang Bạt trong trường hợp này đúng sai thế nào, bạn đọc chắc đã tự tìm được câu trả lời.

Kết Luận
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc, trong bài Nghĩ Về Viết Lách: Phê Bình Cần Có Chủ Kiến đã viết: 

Đánh giá cuốn sách này hay ư?
— Chuyện nhỏ!
Đánh giá tác giả kia viết hay ư?
— Cũng chỉ là chuyện nhỏ!
Cái lớn nằm ở đằng sau cái gọi là “hay” ấy.
Và đằng sau cái gọi là “hay” ấy chính là chủ kiến.

               XXXXXXXXXXXX
Nhà phê bình nào cũng cần có chủ kiến. Không có chủ kiến, tưởng là khách quan, nhà phê bình chỉ làm nô lệ cho truyền thống và theo đuôi quần chúng. Hắn có thể diễn đạt hay; nhưng cái hay ấy chỉ nhằm củng cố những điều mọi người đã biết. Quanh quẩn trong sân chơi của những cái-đã-biết, hắn rất dễ nhận được những tràng pháo tay, nhưng đó là những tràng pháo tay tống tiễn hắn vào cõi quên lãng.
Nhà phê bình phải có chủ kiến. Chính tính sáng tạo và độ quyết liệt trong chủ kiến sẽ là một trong những tiêu chí chủ yếu để đo lường tầm vóc một nhà phê bình.
Châu Thạch là người rất nặng lòng với thi ca và bình tán thơ rất có duyên, nhưng trong các bài bình thơ của anh, theo tôi, còn thiếu một quan niệm thẩm mỹ, một số nguyên tắc có tính lý thuyết mà NHQ gọi là chủ kiến, để làm chỗ dựa cho những lời bình phẩm.
Nếu Châu Thạch bổ túc đuợc điều thiếu sót đó thì tôi tin anh sẽ tiến rất xa trên đường đi tìm cái đẹp của thơ – con đường đã lấy của anh rất nhiều thời gian, công sức, nhưng bù lại, đã đem lại cho anh nhiều niềm vui và hứng thú.

Phạm Đức Nhì

CHÚ THÍCH:
2/ Nhà Thơ Đỗ Trung Quân Và Ca Khúc Quê Hương, Mặc Lâm
4/ Ông Đồ: Những Bức Tranh Thơ
5/ GVT đã bỏ 2 câu của đoạn 4 (phiên bản 1986):

Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè

rồi lấy 2 câu đầu của đoạn 5, đổi chữ “thềm” thành “hè” để câu thơ khỏi lạc vận:

Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài hè
Hai câu này mới chính là “thi hóa thân thành họa”; còn 2 câu trước - diễn tả mùi hương – nên không thể “nhập” và tan biến vào tranh được. GVT rất tinh và rất tài trong sửa đổi này.

6/ Khi thơ biến thành họa người đọc có thể tiếp nhận nội dung trực tiếp (như xem một bức tranh) mà không cần đến lý trí. Vắng mặt lý trí, “cái tôi văn hóa” sẽ rút lui để nhường chỗ cho “cái tôi đích thực” – tác giả và độc giả có cơ hội giao tiếp với nhau bằng Tiếng Người Chân Thật.

PHỤ LỤC:
1/ Bài Học Đầu Cho Con – nguyên bản (1991)

Quê hương là gì hả mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu?
Quê hương là gì hả mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều?
                                    
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè

Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm
Tiếng ếch râm ran bờ ruộng
Con nằm nghe giữa mưa đêm

Quê hương là bàn tay mẹ
Dịu dàng hái lá mồng tơi
Bát canh ngọt ngào tỏa khói
Sau chiều tan học mưa rơi

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người đều có
Vừa khi mở mắt chào đời
Quê hương là dòng sữa mẹ
Thơm thơm giọt xuống bên nôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.

2/ Bài Học Đầu Cho Con – phiên bản 1986

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ...

3/ Lời của ca khúc Quê Hương.
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài hè 

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người

QUÊ HƯƠNG

Ôi lịch sử những dòng đời cay nghiệt,
Những tự hào hoá giải với oan khiên.
(Trần Kiêm Đoàn)

Quê hương có gì để nhớ
Mà sao nước mắt lưng tròng?
1.
Quê hương. chiếc đò nho nhỏ
Qua sông. kham khổ từng ngày
Thân me vai gầy. gánh khổ
Thương con. chịu nổi đắng cay

Quê hương còn đầy thương nhớ
Ngoại nhai tóm tém trầu cay
Mẹ mày. thằng cháu mất dạy
Rong chơi lêu lỏng suốt ngày

Quê hương làm sao không nhớ?
Cầu tre lắc lẻo sáng mai
Đường vui. trống trường réo gọi
Cây cao. chim hót từng bầy

Chia nhau từng viên đạn nhỏ
Bịt mắt. kiếm tìm. Ai đây?
Chia nhau nỗi lo thầy gọi
Nhói đau. thước khẽ bàn tay
Chia nhau trái me keo ngọt (+)
Chia nhau từng tiếng cười đầy

Quê hương làm sao không nhớ?
Dòng sông tuổi trẻ mênh mang
Bần de. phóng đùng. nước mát
Lặn tìm. chân bắt. la vang
Bờ sông. chị khàn tiếng gọi
Vết roi cha đánh. tím bầm!
2.
Quê hương đỏ màu phượng vĩ
Hè sang. ve sầu khóc vang!
Tạ từ. lời ca ly biệt
Buồn trao lưu bút. lệ tràn!
Biết rồi mùa sau gặp lại?
Hay rồi đôi ngả ly tan!

Quê hương. buồn vui gác trọ
Thả hồn. giọng Khánh Ly khàn
Chia nhau. chút đầu thuốc vụn
Khói bay. theo khúc tình tan

3.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Xuân nao. thay đổi phận người!
Bể dâu. biệt ly. mong đợi!
Khổ đau thay thế nụ cười!

” Bàn tay. làm nên tất cả
Sức người. sỏi đá thành cơm ”
Trăm năm. lời này vẫn nhớ!
Bao năm. thắt cổ con người!

Khô cằn. ” thằng Trời. Đảng thế ”
Giờ làm mưa gió được chưa?
” Trăm năm. trồng con người mới ”
Mười năm. đủ dối lòng người!

Bao năm chém tre đẵn gỗ
Bạn bè. chết không nắm mồ!
Mẹ già vượt đồi núi khổ
Thăm con. lệ đổ đôi dòng!
Con ơi. vợ con Kiều đó
Bán thân. lo giúp cho chồng!
Chữ Trinh. thôi đành phụ bạc!
Đoạn trường. con biết hay không?!

4.
Bao năm đời này vẫn nhớ
Đêm thâu. xuôi mái theo dòng
Người đi. không lời từ biệt
Buồn ơi. tím biếc dòng sông!

Quê hương ta ơi. thôi nhé!
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!
Rặng cây quê hương mờ bóng
Có còn gặp lại được không?

5.
Quê hương hoài mong thương nhớ
Cô thân. lưu lạc phuơng người
Chiều nay. nhớ dòng sông ấy
Lục bình hoa tím hoài trôi!

Quê hương ta ơi …đừng nhớ!
Muộn phiền. cay đắng mà thôi!

Cố quên. sao lòng vẫn nhớ!
Quê hương nhớ lắm… người ơi!
Quê hương còn gì để nhớ?
Buồn ơi. nước mắt lưng tròng!

Quê hương sẽ còn để nhớ?
Quê hương đáng nhớ không người?!
Nguyên Lạc 
                

NGUỒN email : nhidpham@gmail.com

SAO BẰNG...

THƠ XƯỚNG HỌA
Mặc Phương Tử,Như Thị, Lý Đức Quỳnh.Hương Thềm Mây,
SAO BẰNG...
Dù có bao nhiêu luỵ sóng thành
Sông còn sâu đó, núi còn xanh.
Đã qua giấc mộng sương tan nắng
Lại thấy niềm đau mây rũ mành.
Những nghĩ hoài mơ màu cẩm tú,
Mà sao chưa vẹn nét đan thanh.
Ô hay, mới biết đời trăm ngã,
Biết ngã nào đây giữa bại thành.!

Giữa bại thành, ta vẫn một trời
Sá chi phương ngoại nước mây trôi.
Sắc son những lúc nên thân ấy,
Cơm áo đôi khi nát chữ rồi.
Mộng tưởng đêm về trăng chếch bóng
Hư danh chiều xuống lệ rưng ngươi.
Sao bằng nghĩa cử Nhơn-Trung-Hiếu
Cho cả tình quê, cả cuộc đời.
South Dakota, tháng 10.2017.
MẶC PHƯƠNG TỬ.

BÀI HỌA
BUÔNG THÔI
Cuộc lữ mơ chi chuyện giữ thành
Sáng chiều thay đổi úa rồi xanh
Nhện đan gió lặt đau thềm trúc
Hoa nở mưa quăng tủi giậu mành
Sân khấu chưa lên màn chính diện
Cổ chinh đã trệ bậc âm thanh
Lều bều bèo giạt về muôn nẻo
Thì hãy quên đi chuyện bại thành

Thì hãy nhìn xem một góc trời
Mà đường lãng đãng mấy màu trôi
Mở bầu chính khí nguồn khô kiệt
Bươi mớ phong tư  mạch cạn rồi
Thấy cuộc vô thường nên quý bạn
Nhìn thân hữu hạn hãy thương người
Đến,đi…về,ở như sương khói
Giành giựt đua chen chẳng sống  đời
Như Thị- kính họa
CŨNG KHÔNG… 
Tầng mây quyện khói trắng xây thành
Biếc tỏa lưng trời núi ngát xanh
Nước chảy rì rào khe trổi nhạc
Liễu bay phấp phới gió buông mành
Vô vi rảo bước miền hoan lạc
Lặng lẽ thư nhìn cõi tú thanh
Hân thưởng sắc hương chiều quảng đại
Hòa trong tan hợp giữa nhiên thành

Giữa nhiên thành biến…luật quy trời
Thuận đến,thuận về…rõ dạt trôi
Mất được bao lần,đau biết thế
Nên hư lắm bận,khổ hay rồi
Vò tai thế sự cùng thương cảm
Mở mắt nhân tình tự hổ ngươi
Dẫu chẳng công gì gìn cội vững
Cũng không lạc lõng nẻo xuân đời
Lý Đức Quỳnh
MỞ RỘNG TÂM BI
Khói cuộn theo mây thả trắng thành
Lưng đồi bát ngát thẳm ngàn xanh
Xôn xao cuộc mộng chừ tan khói
Rạo rực tình mơ cũng xếp mành
Ổn dạ châm đèn soi tục lụy
Yên tâm đốt đuốc rọi trần thanh
Trăm năm một kiếp luân hồi chuyển
Ánh nguyệt thiên thu mãi chiếu thành

Ánh nguyệt hoài đâygiữa đất trời
Neo lòng cổ tự thản mây trôi
Im chiều vượn hú bờ đau ấy
Lặng sớm mây qua bến khổ rồi
Mộng gửi đường lành hòa dạ thế
Mơ trao lối thiện hợp hồn người
Lòng vô ngại giữa tình nhân loại
Mở rộng tâm bi vạn nẻo đời
Hương Thềm Mây - (GM.Nguyễn Đình Diệm)

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

HỌC ĐẠO!

THƠ XƯỚNG HỌA
Như Thị, Trần Ngộ ,Hương Thềm Mây,Lý Đức Quỳnh,
Phan Tự Trí,Sông Thu,Trần Như Tùng,Như Thu,Duy Lương,
Trần Văn Hạng,NS-Canada,Minh Thúy,Hồng Phượng

HỌC ĐẠO!
Chéo áo con tìm lại ngọc châu
Hoa ưu bát nở lặng cơn sầu
Biết thân bất tịnh
dầm thương hải
Rõ pháp vô thường
tẩm bể dâu
Thúc liễm từ bi lòng quảng đại
Hành trì bát nhã trí thâm sâu
Chặn mầm ba độc* ngừng say đắm
Tri Kiến Phật đây chẳng phải cầu
Như Thị
*Tham,sân,si 
BÀI HỌA
NGỌC NI CHÂU
Trong con thường có hạt ni châu
Sao chẳng dùng đi lại thảm sầu
Soi đuốc kim cang
soi bến bãi
Giương đèn bát
nhã rọi ngàn dâu
Chớ nương trần cảnh hồn thêm lún
Đừng níu đường tình xác đoạ sâu
Lắng tiếng tâm kinh lời Phật dạy
Có chi là đắc phải mong cầu
Trần Ngộ
THOÁT LỤY TRẦN
Cùng tử con tìm lại hạt châu
Hoa ưu đàm nở thoát đau sầu
Hành trang hỷ nộ...oan thâm biển
Gánh nặng bi ai...hận tận dâu
Chế ngự thân tâm nương cửa Phật
Điều hòa dạ ý tựa pháp cầu
Lành sanh diệt ác đời an thới
Thoát lụy trần ai não chướng sâu
Hương Thềm Mây – 26.10.2017
(GM.Nguyễn Đình Diệm)
MONG THẦM
Mong thầm Hợp Phố lại về châu
Đoạn chuỗi trường miên kết tuổi sầu
Hớn hở buồm căng thuyền rộng biển
Tưng bừng sóng lãng bến xanh dâu
Quê hương thiện ý hoài lan tỏa
Non nước chân tình mãi đậm sâu
Hạnh phúc bình yên đời tận hưởng
Còn ai bẫy đặt mộng cơ cầu ?
Lý Đức Quỳnh
DƯỠNG TÂM
Giữ lòng thất bảo tấm trân châu
Để dạ vơi đi những khổ sầu
Vi diệu đâu màng nơi bãi mía
Trang nghiêm sá kề giữa ngàn dâu
Vô thường hỷ nộ thôi nông cạn
Bất tịnh oan cừu chẳng đắm sâu
Ngã lạc pháp thân cùng bạn hữu
Đồng thanh ứng hiệp khí tương cầu.
Phan Tự Trí
ÁNH ĐẠO VÀNG
Đạo như ánh sáng dạ minh châu
Soi rọi đời con thoát khổ sầu
Chấp ngã, lòng riêng như đá tảng
Vô thường, biển rộng ví nương dâu
Xả buông phiền muộn, tâm tư nhẹ
Thiền định an bình, hơi thở sâu
Tự tại ung dung không vướng bận
Trí thân nhẹ nhõm lọ mưu cầu.
Sông Thu
HỌC THẦY HỌC BẠN
Cha dạy mỗi lời một hạt châu
Hãy tường sự vật gạt u sầu.
Tìm hay của phú cần hay chữ
Muốn tốt cho tằm phải tốt dâu.
Biết ít làm nhiều nhờ hiểu đúng
Biến không thành có phải nghiên sâu.
Rời trường rời sách noi nơi bạn
Họ sẽ chỉ cho cách vượt cầu ,
Trần Như Tùng
TỈNH THỨC
Thường hằng lấp lánh hạt minh châu
Ngọc bảo ai ơi chớ gợi sầu !
Vạn nẻo trần gian dường huyễn mộng
Muôn màu thế giới tựa nương dâu
Vô minh giã biệt...màn đêm tối
Trí tuệ trau dồi... trực giác sâu
Chánh niệm duy trì trong tỉnh thức
Vị lai chửa đến cớ sao cầu ?
Như Thu
NHÀ NÔNG
Chuyên cần sớm, tối lặng tìm châu
Dệt bức tranh quê chớ phải sầu
Lội suối, trèo non thì hái củi
Gồng sương, cuốc đất để trồng dâu
Bền xây hạnh phúc trong cần kiệm
Chẳng mộng giàu sang ở nguyện cầu
Rút ruột thân tằm trao gấm vóc
Cho đời thắm đượm nghĩa tình sâu
        Phạm Duy Lương
CAM PHẬN
Giọt buồn ưng ức gẫm sa châu
Mang nặng hồn đau toả bể sầu
Kiếp bạc ghi tâm thương bãi biển
Duyên thừa khắc cốt khóc nương dâu
Đường trần lắm kẻ bên ghềnh thác
Cỏi thế bao người trước vực sâu
Vạn nẽo ba sinh - Đời vẫn thế
Thôi đành cam phận chẳng mong cầu
Trần Văn Hạng
TU TÂM
Đừng ham vàng bạc với trân châu
Si lụy mà chi thêm hận sầu
Nếu biết cuộc đời là bễ khổ
Mà sao lòng dạ đắm sông sâu
Tham sân gom góp mờ đôi mắt
Mộng mị vun trồng tưởng biển dâu
Tỉnh táo đi thôi ươm đạo hạnh
Tu tâm dưỡng tánh khỏi cơ cầu !
NS-CANADA
ĐƯNG TU
Học đạo mong tìm chuỗi hạt châu
Nương theo Tứ Diệu Đế buông sầu
Tâm an chẳng sợ nơi mưa gió
Thân ổn đâu màng chốn biển dâu
Tụng chú Đại Bi lòng lắng nhẹ
Ôn bài Bát Nhã trí hằn sâu
Vun bồi phước , huệ gieo hoa nở
Hơi thở từng giây chẳng nghĩ cầu
Minh Thuý
DẶN LÒNG
Thổn thức bồi hồi ngấn lệ châu
Tâm tư bấn loạn rước thêm sầu
Bóng trăng nhợt nhạt chùng đêm tối
Gió bấc u u dậy nương dâu
Ước nguyện an nhiên cùng tự tại
Cầu xin lộc biếc mãi bền sâu
Hỡi ai trong quảng đời ngang dọc
Nên nhớ dặn lòng phát nguyện cầu
HỒNG PHƯỢNG